Bài văn bình giảng bài thơi Tống biệt hành của Thâm Tâm hay

Thứ tư , 14/10/2015, 09:36 GMT+7
Đề: Bình giảng bài thơi Tống biệt hành của Thâm Tâm. 'Trong bi kịch, các nhân vật trữ tình này vẫn lồng lộng chất tráng ca. Đó cũng chính là tâm hồn thời đại trong bôi cảnh không khí thời đại...'

BÀI LÀM

Thơ mới chỉ có hai cuộc tiễn đưa đặc biệt; một của Thế Lữ (Giây phút chạnh lòng) và một của Thâm Tâm (Tống biệt hành). Còn thì chỉ là những cuộc chia tay thông thường, cuộc chia tay giữa người tình với người tình, giữa người thân với người thân. Thương nhớ chỉ quẩn quanh nơi những không gian xa cách, những mối tình phôi pha...

Anh biết em di chẳng trờ về Dặm ngàn liễu khuất với sương che

Em đừng quay lại nhìn anh nữa Anh biết em di chẳng trở về.

(Thái Can)

Tất nhiên, những khúc li biệt ấy đều có những giá trị, những hấp dẫn riêng. Nhưng cũng từ đó ta càng thấy quý hơn những cuộc biệt li của những tầm cao nhân cách.

Đó là những khúc biệt li mang chất thẩm mĩ bi tráng.

Thế Lữ và Thâm Tâm đã cảm hứng từ cuộc tiên đưa con người chí lớn, con người khát vọng cái cao cả - khát vọng cái lí tưởng nồng cháy:

Non nước đang chờ gót lãng du Đâu đây vẳng tiếng hát chinh phu Lòng tôi phơi phới quên thương tiếc Đưa tiễn anh ra chốn hải hồ Anh di vui cánh lạ đường xa Đem chí binh sinh dãi nắng mưa Thân đã hiến cho đời gió bụi Đâu còn lưu luyến chút duyên tơ.

(Thế Lữ)

Li khách! Li khách! Con đường nhỏ Chí nhớn chưa về bàn tay không,

Thì không bao giờ nói trở lại!

Ba năm mẹ già cũng đừng mong.

Trong bi kịch, các nhân vật trữ tình này vẫn lồng lộng chất tráng ca. Đó cũng chính là tâm hồn thời đại trong bôi cảnh không khí thời đại. Thuở ấy, những thanh niên trí thức, sinh viên, học sinh đã cảm nhận được cái vô. nghĩa của những nhân cách an phận, nhàn du nhỏ bé mà sau này, Che"Lan Viên viết:

Lũ chúng ta ngủ trong giường chiêu hẹp Giấc mơ con đè nát cuộc đời con

Hạnh phúc đựng trong một tà áo đẹp Một mái nhà yên rủ bóng xuống tâm hồn

Lương thiện đấy, nhưng không có nội dung!

Thậm chí, có những người “vô tư”:

Quanh Hồ Gươm không ai bàn chuyện vua Lê Lòng ta đã hóa thành rêu phong chuyện củ.

(Chế Lan Viên)

Những con người nhỏ bé ấy đã đứng ngoài những cảm nhận về nỗi dân tộc đang trong gông xiềng nô lệ, về nỗi nhân dân đang đói khổ, đau khố... Kiếp người cơm vãi cơm rơi - Biết đâu nẻo đất phương trời mà đi... (Tô Hữu), về nỗi những Chí Phèo đang làm vào thảm trạng tha hóa và đang bị cự tuyệt quyền làm con người lương thiện... (nhân vật của Nam Caoj.

Có một tầng lớp thanh niên có học biết nặng lòng với đất nước, VỚI nhân dân. Họ ưu tư, trăn trở trôn đời sông chung của dân tộc. Nhưng nhìn quanh, họ chi thấy những bức tường bố tắc!

Thuở ấy, không khí thời đại ám đạm lắm.

Một lá cờ Cần vương phất, cao với bao tâm huyết. Rồi từ Bắc chí Nam, Cần vương đi vào thất bại. Những chiến sĩ Đông Kinh Nghĩa Thục ra quân, những Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh... cùng lâm vào thất bại. Vận hội may mắn của cái dân tộc điêu linh này chưa tới? Rồi Việt Nam Quốc dân Đảng nồng nhiệt liều thân, cũng chí để lại một tiếng bom của Phạm Hồng Thái: “Không thành công, cũng thành nhân... ”

Đúng như sau này, Chế Lan Viên viết:

Cha ông xưa từng đấm nát tay trước cửa cuộc đời,

Cửa vẫn dóng và đời im ỉm khoá

Những pho tượng chừa Tây Phương không biết cách trả lời. Cả dân tộc đói nghèo trong rơm rạ Văn chiêu hồn từng giọt thấm mưa rơi...

Trong không khí thời đại ấy, những con người có học, có tâm huyết đã buồn. Ai đã chê “Thơ mới” buồn? Thậm chí, ai đã cho “Thơ mới” là bạc nhược? Hơn nữa, ai đã kết tội “Thơ mới” là có lợi cho địch? Đến bây giờ, khi không khí của hai cuộc chiên tranh đã lùi xa, khi mọi lí lẽ đã được suy ngẫm, kiểm nghiệm, chúng ta mới biết sợ những thái độ “khoa học” chưa hoàn chỉnh này.

Chất buồn của “Thơ mới” là chất buồn mang tầm cao thời đại. Đó là chất buồn nhân tính.

Tống biệt hành là khúc trữ tình buồn ấy, là khúc bi tráng ca của một tâm hồn non nước.

Đưa người, ta không dưa qua sông,

Sao có tiếng sóng ở trong lòng?

Bóng chiều không thắm, không vàng vọt,

Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Trên bình diện nội dung công khai, đã có hai nhân vật trữ tình: người ra đi và người đưa tiễn. Rồi cả những đoạn thơ sau, vẫn là hai con người ấy: Dưa người, ta chỉ đưa người ấy,

Ta biết người buồn chiều hôm trước

Ta biết người buồn sáng hôm nay

Nhưng có thật là hai con người không? Hay chỉ là một nhân vật trữ tinh dạng phân thân? Hai con người này có những ranh giới nhập nhoạng mơ hồ, có khi chập vào nhau: tiếng sóng ở trong lònghoàng hôn trong mắt trong; có khi ớ trong nhau mà tự vân:

Người đi? ừ nhí, người di thực!

Đoạn thơ đầu, bằng thê thất ngôn cồ điển, bằng nghi vân tu từ thể điệp... Thâm Tâm đưa ta vào một không khí Đường thi trang trọng. Ta chìm vào trong một trầm tư:

Dưa người, ta chỉ dưa người ấy Một giã gia dinh một dửng dưng.

... Li khách! Li khách! Con dường nhỏ Chí nhớn chưa về bàn tay không,

Thì không bao giờ nói trở lại!

Ba năm mẹ già cũng dừng mong.

Như một hành dộng chọn lọc... ta chí dưa người ấy, cuộc tiễn đưa bắt đầu đi vào chiều hoành tráng một giã gia dinh, một dửng dưng. Tính cách thời đại xuất hiện. Con người ấy có dáng dấp Kinh Kha (Ai dồng chí trong dám người tiểu kí Trân kinh thành lơ lửng một thanh gươm... ) con người ấy mang phong thái chiến sĩ tráng sĩ một đi không trở về...

Cái chất lãng mạn hoành tráng ấy, vồ sau sẽ được tái diễn trong những vần thơ của Quang Dũng, Chính Hữu ở giai đoạn thơ thời đầu kháng chiến chống Pháp (1946 -1947 - 1948):

Sông Mã xa rồi Tây Tiên ơiỉ Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi Sài Khao sương lấp đoàn quăn mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời.

(Quang Dũng)

Nhớ đêm ra di đất trời bốc lứa Cá đô thành nghi ngút khói sau lưng Những chàng trai chưa trắng nợ anh hùng Hồn mười phương phất pha cờ đỏ thắm Rách tả tơi rồi đôi giày vạn dặm Bụi trường chinh phai bạc áo hào hoa...

(Chính Hữu)

Câu ca trác tuyệt như vậy mà ai lại dám bảo đó là những vần thơ '‘buồn rớt, mộng rớt... yên hùng... ", ai lại dám bắt “lột xác, nhận dường... ”.

Thâm Tâm đi bước thứ nhất, đê cho Quang Dùng, Chính Hữu đi bước thứ hai trong cám hứng láng mạn hoành tráng.

Ta biết người buồn chiểu hôm trước

Vì sao người buồn? Không phải vì cuộc ra đi bịn rịn. Người buồn vì nỗi những nhân cách tầm thông thường khống thể hiểu người. Đó là một chị, hai chị, cung như sen, khuyên not em trai dòng lệ sót.

Nỗi buồn ấy hiện ra trong buổi chiều.

Ta biết người buồn sáng hôm nay

Vì sao người buồn? Vì phải xa những tấm lòng trẻ thơ, xa những em nhỏ ngây thơ dôi mắt biếc. Nỗi buồn ấy lấy bối cảnh một ban mai rực rờ (Trời chưa mùa thu tươi lắm thay) tương ứng hài hoà với ánh sáng tinh khôi trước mắt trẻ. dó là thẩm mĩ của cái đẹp - buồn.

Một dấu hỏi:

Người đi? ừ nhỉ, người đi thực!

Một trả lời trong cảm thán. Cũng có thế là một tự trả lời mình. Mẹ thà coi như chiếc lá bay.

Nhân vật bà mẹ đến đây mới thực sự xuất hiện. Trước, trong câu: Ba năm mẹ già cũng đừng mong, chỉ là một cách nói. Bi kịch của lòng mẹ là bi kịch của:

Lá vàng thì ở trên cây

Lá xanh rụng xuống trời hay chăng trời.

(Ca dao)

Chị thà coi như là hạt bụi,

Đó là một câu tâm lí học. Các bà chị đã tự bàng lòng mình về việc thương em (Khuyên nốt em trai dòng lệ sót); bây giờ, lòng thành thanh thản.

Em thà coi như hơi rượu say.

Thâm Tâm dành cho “em” cái ngôi kết thúc. Người tình của Dũng, nàng Loan (nhân vật của Nhất Linh), trong tiễn đưa đã:

Lòng tôi phơi phới quên thương tiếc Đưa tiễn anh ra chốn hải hồ.

(Thế Lữ)

Người tình của chàng trai chí lớn này thì trong li biệt, hoài niệm một chất nồng say đã được hướng... Câu thơ không tiếc nuôi, chỉ là man mác. Nó ngân vang tạo ra dư âm chung của toàn bài...

Sau 1945, Thâm Tâm cùng với dân tộc, đi vào cuộc trường kì kháng chiến chống Pháp. Và anh đã chết, cái chết đẹp của người chiến sĩ. Phải chăng, bằng chính cuộc đời mình, Thâm Tâm đã hiện thực hóa cái giấc mơ của nhân vật trữ tình trong thơ nh?

Nguồn: