Thuyết mình tinh hiện thực, chiến đấu và trư tình trong thơ Nguyễn Đình Chiểu

Thứ tư , 28/10/2015, 09:12 GMT+7
ĐỀ: Tìm hiểu tính hiện thực, tính chiến đấu và trữ tình trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu.'Trong tác phẩm của mình, cũng có lúc Nguyễn Đình Chiểu dùng bút pháp tượng trưng. Nhưng tác giả đã vận dụng nhiều chất hiện thực,...'

BÀI LÀM

Thơ văn Đồ Chiểu là kết tinh cao nhất của nền văn học yêu nước sục sôi ở miền Nam thời kì bấy giờ.

Tính chất hiện thực trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu rất sâu sắc. Ở giai đoạn trước - cuối thế kỉ XVHI và đầu thố kỉ XIX - miền Nam đã có một số thơ văn chữ Hán, chữ Nôm của nhóm  ‘Chiêu Anh các ‘ Hà Tiên, của nhóm  ‘Gia Định tam gia thi ‘, của  ‘Bạch Mai thi xã ‘, nhưng nói chung những tác phẩm này chưa có tiếng vang lớn. Đến khi nổ ra cuộc kháng chiến chống Pháp, văn thơ miền Nam có một bước tiến bộ khống lồ, đặc biệt là thơ văn chữ Nôm. Nó đã phản ánh một cách chân thực và sinh động con người Đồng Nai đầy ý chí bất khuất, sôi nổi, chân thành, thẳng thắn, không hay văn hoa, hình thức. Đặc biệt, Đồ Chiểu đã vượt qua được một trở ngại là tính chất hạn chế trong việc miêu tả hiện thực của thơ văn chữ Hán. Hầu hết văn thơ Đồ Chiểu được viết bằng chữ Nôm. Tiếng nói của nhân dân được đưa vào rất nhiều, điều đó cũng tăng thêm sức biếu hiện và chiến đâu của nó.

Phạm vi hiện thực được phản ánh trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu khá rộng rãi và khá tập trung. Cảnh lầm than, tang tóc của nhân dân, tội ác của quân xâm lược và bọn tay sai đã được miêu tả một cách kha cụ thể. Ngòi bút Đồ Chiểu đã ghi lại được những biến động, những hình ảnh về cuộc kháng chiến Nam Bộ trong nhiều năm dài chống Pháp. Trong lúc bọn Pháp nói về tinh thần chiến đấu của nghĩa quân ta khi đánh đồn Thuộc Nhiêu (Mỹ Tho):

 ‘Người An Nam với vũ khí thô sơ chống với súng ca-ra-bin, họ cứ việc nhào vỏ đánh với một nghị lực mù quáng, chứng tỏ rằng họ can đảm và quyết tâm một cách phi thường ‘ (Trần Văn Giàu).

Nguyễn Đình Chiểu đã viết về người nông dân chiến đâu ấy như sau:

Ngoài cật có manh do vải, nào đợi mang bao tấu bầu ngòi; trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu nón gõ.

Hỏa mai đánh hàng rơm con cúi, củng dốt xong nhà dạy đạo kia; gươm deo dùng bằng lưỡi dao phay, củng chém rớt đầu quan hai nọ.

Chi nhọc quan quản gióng trống kì trống giục, dạp rào lướt tới, coi giặc củng như không; nào sợ thằng Táy bắn đạn nhỏ, dạn to, xô của xông vào liều mình như chẳng có.

(Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc)

Qua đoạn văn trôn đây, chúng ta cũng thấy được hiện thực trong thơ văn của ông. Đồ Chiểu đã ghi lại được nhiều nét cụ thể, sinh động và đẹp đõ làm sao về người nông dân ứng nghĩa thời ấy.

Nguyên tuần phủ Đỗ Quang có chép trong bản sỞ gởi về triều đình H uế lời nói đầy khí khái của Phan Văn Đạt trước lúc bị hành hình:

 ‘Chúng bay lấy mê đạo dụ người, nay dám xông vào đất nước ta cướp bóc, hiếp dâm, làm điều vô đạo. Ta căm hận vì lúc sông không ăn thịt được bọn bay, lúc chết sẽ ngầm giúp mọi người ứng nghĩa giết hết lũ bay, mới toại nguyện ta ‘.

Nguyễn Đình Chiểu chắc đã nhỞ câu nói anh hùng ấy khi cầm bút viết:

Sông đánh giặc, thác củng đánh giặc, linh hồn theo giúp co binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia...

Trong tác phẩm của mình, cũng có lúc Nguyễn Đình Chiểu dùng bút pháp tượng trưng. (Ta thấy rõ điều này trong Ngư Tiều y thuật vấn dáp). Nhưng tác giả đã vận dụng nhiều chất hiện thực, rút ra từ cuộc sống thực. Đối với tác phẩm Ngư Tiều y thuật vấn đáp mà bề ngoài tưởng chừng như chỉ bàn về cách làm thuốc, ta thấy Đồ Chiểu đã gửi gắm niềm tâm sự tha thiết, xót xa của minh trước cảnh Tô quốc bị xâm chiêm, chia xỏ.

Tính hiện thực trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu đã được nâng lên một mức. Tính hiện thực đó gắn liền với tính chiến đâu. Tác giả đã cất cao tiếng thót căm thù đối với quân cướp nước cũng như đối với bọn mọt nước, sâu dân:

Bữa thấy bòng bong che tráng lốp, muốn tới ăn gan; ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cấn cổ.

(Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc)

Nền xã tắc là nơi báo bô, can chi mà đào lỗ, dào hang; chốn miêu dường là chỗ thanh tân, cỞ chi mi cắn màn cắn sáo?

(Thảo thử hịch)

Đề cao, ca ngợi hết lời những thủ lĩnh kháng chiến, những người nông dân  ‘áo vải ‘ không hề dấn đo, suy tính trước cái chết khi Tổ quốc lâm nguy, vân thơ Nguyễn Đình Chiểu rất xa lạ với tính chất phù phiếm, hư vân. Mỗi dòng, mỗi chữ của ông đều có sức nặng: nó bao hàm những tư tưởng, tình cảm tiêu biểu nhất của thời đại. Đồ Chiểu có một lối nhìn

hết sức mới mẻ về người nông dân. Ông không tô vẽ, phóng đại, mà chỉ nói lên những điều rất xác thực, rất điển hình về những con người đó. Thế mà hình ảnh lại rất sống, rất đẹp! Điều đó càng nói lên cuộc sống gần gũi và tâm hồn gắn bó của nhà thơ đối với nông thôn, đối với nhân dân lao động biết bao!

Bên cạnh tính chất hiện thực và tính chất chiến đấu, chúng ta cần nói đến tính chất trữ tình của thơ văn Nguyễn Đình Chiểu. Ngày nay, khi đọc thơ văn ông, chúng ta còn bị kích thích, rung động đến cực độ. Tình cảm thiết tha của tác giả đã truyền cảm qua người đương thời và đến các thế Hộ sau một cách mãnh liệt. Yêu nước non, nói về nhân dân, thời bây giờ ai nói lên được như Nguyễn Đình Chiểu?

Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu trong nhiều câu, nhiều đoạn, nhiều bài dầm đìa nước mắt:

Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữa thiên dân.

(Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc) Nỡ khiến anh hùng rơi giọt lụy Trên trại dồn điền hoa khóc chủ.

(Thơ điếu Trương Định)

Oi trời Bên Nghé, mây mưa sùi sụt.

(Văn tế Trương Định)

Chạnh lòng trăm họ khóc quan Phan.

(Thơ điếu Phan Tòng)

... quen lạ thảy điều rơi nước mắt.

(Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc)

Nói ra thì nước mắt trào,

Tấm lòng ưu thế biết bao giờ rồi. ỉ loa cỏ ngùi ngùi ngóng gió đông.

(Ngư Tiều y thuật vârt đáp)

Nhưng ở đây không phải là những giọt nước mắt rơi xuống vì khóc than sô phận cá nhân, mà đó là tiếng khóc nước nhà cơn bấn loạn, tiếng than bờ cõi lúc qua phân. Đó là những giọt lệ rơi xuồng vì các tướng lĩnh, nghĩa quân bỏ mình vì đại cuộc. Cao quý làm sao, đẹp đẽ làm sao tâm hồn đầy xúc cảm rộng lớn của nhà thơ mù Nguyễn Đình Chiểu!

Đặc biệt khi nói về đất nước bị chia cắt, thơ văn Đồ Chiểu làm cho chúng ta đau tận đáv lòng:

Oi sự thê hãy bên Hồ bên Hán, bao giờ về một mối xa thư;

Phong cương còn nửa Tống nửa Liêu, dâu nỡ hại một tay tướng soái...!

Hoặc:

Vỉ ai khiến dưa chia khăn xé, nhìn giang sơn ba tỉnh luống thêm buồn;

tìiết thuở nào cờ phất trống rung, hỡi nhật nguyện hai vùng sao chẳng đoái!

(Văn tê Trương Định)

Hoặc:

Mây giăng ải bắc trông tin nhạn,

Ngày xế non nam bặt tiếng hồng.

Bờ cõi xưa, đà chia đất khác,

Nắng sương, nay há đội trời chung.

Nguồn: