Phân tích tác phẩm Chuyện người tử tù cực kì hay và ý nghĩa

Thứ hai , 19/10/2015, 09:28 GMT+7
ĐỀ: Bình luận lời khuyên của Huấn Cao khi cho chữ tên quản ngục: Ở đây lẫn lộn... cũng đến nhem nhuốc cái đời lương thiện đi. (Chữ người tử tù — Nguyễn Tuân) Từ đó nêu lên ý nghĩa sâu sắc của việc Huấn Cao cho chữ tên quản ngục.

BÀI LÀM

Tôi muốn gọi phút giây ấy là phút giây xanh, lời khuyên ấy là những tiêng lòng còn xanh mãi - lời khuyên của người tử tù sau khi cho chư quản ngục, trong một không khí khói tỏa như đám cháy nhà nơi buồng

tối chật hẹp, ẩm ướt, tường đầy mạng nhộn, đất bừa bãi phân chuột, phân gián. Bởi, làm sao không xúc động, không trân trọng những lời tâm huyết như thế này:

“Ở dây lẫn lộn. Ta khuyên thầy Quản nên thay chốn ở đi. Chỗ này không phải là nơi dể treo một hức lụa trắng với những nét chữ vuông vắn tươi tắn nó nói lên những cái hoài bão tung hoành của một dời con người. Thoi mực, thầy mua ở đâu tốt và thơm quá. Thầy có thấy mùi thơm của chậu mực hốc lên không? ... Tôi bảo thực đấy, thầy Quản nên tìm về nhà quê mà ở đã, thầy hãy thoát khỏi cái nghề này đi đã, rồi hãy nghĩ dến chuyện chơi chữ. Ở đây, khó giữ thiên lương cho lành vững và rồi cũng đến nhem nhuốc mất cả cái đời lương thiện di.”

Không gian, thời gian như ngưng tụ lại để lời người tử tù đỉnh đạc, cất lên và hóa thành bất tử. Không chỉ là lời khuyên, đó là những nhịp đập bồi hồi của trái tim Huấn Cao, người nghệ sĩ chân chính với quản ngục, kẻ tri âm có tấm lòng biệt nhỡn liên tài, một thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn xô bồ. Lời khuyên hay chính là lời khẳng định dõng dạc cho một chân lí: cái đẹp không thể chung sông với cái xấu xa, thấp hèn, con người ch! có thê thưởng thức được cái đẹp nếu như giữ được bản chất trong sáng? Lời khuyên ấy chỉ có thể xuất phát từ một con người biết hết lòng trân trọng, nâng niu cái đẹp, một con người đã qua nhiều suy nghĩ, trải nghiệm trong cuộc đời. Lời dặn dò CUỐI cùng là lời trăng trôi của một đời hào kiệt. Nó không chỉ có ý nghĩa với viên quản ngục, với thầy thơ lại, nó còn có ý nghĩa với mọi người. Bởi, đó là những quan niệm đẹp đẽ về cuộc đời, về nghệ thuật mà Nguyễn Tuân gửi gắm qua Huấn Cao, quan niệm thống nhất giữa tâm và tài, giữa cái đẹp và cái thiện mà ông gọi là “thiên lương”.

Câu nói “nghệ thuật không chỉ cho người ta nhận thức thẩm mĩ mà còn giúp người ta cải tạo cuộc sống theo yêu cầu thẩm mĩ” phải chăng là đúng trong trường hợp này? Tiếng nói của cái đẹp đã hướng dẫn con người, thức tỉnh con người. Không phải là phép thần thông của tiên, của Phật đưa cái thiện bao gian nan về bến bờ hạnh phúc, vẹn nguyên cái đẹp trắng trong mà đây là điều kì diệu trong đời thực. Chẳng bạo lực xích xiềng, chẳng dao to búa lớn mà rất gần gũi, thân thương, cái đẹp đã chinh phục lòng người bằng tự bản chất của nó:

“Thoi mực, thầy mua ở đâu tốt và thơm quá. Thầy có thấy mùi thơm của chậu mực bốc lên không? ...”

Ta có lầm chăng khi lắng nghe lời tâm tình sâu lắng, thiết tha ấy của một ké tử tù cổ đeo gông, chân vướng xiềng chỉ ngày mai là bị giải đếnpháp trường. Những lời nói cất lên từ một buồng tối chật hẹp, ẩm ướt, đẫt bừa bãi phân chuột, phân gián... Hiện thực khắc nghiệt dường ấy, những tưởng con người cũng tàn héo đi mà sao thốt ra những tiếng lòng tươi xanh đến thế?

Người bình thường đâu dễ có được cảm xúc như thế. Nhưng đây là kẻ

tử tù mang trái tim nghệ sĩ. Ngục tối, cái chết làm sao có thể làm cho Huấn Cao run sợ khi ông đang sông với những phút giây thật nhất của lòng mình. Người nghệ sĩ tài hoa say mê với mùi thơm của chậu mực, say đến mê mẩn, như không biết ngày mai... tưởng như trái tim ông đang rạo rực, bồi hồi. Lời nói như trầm lắng, thiết tha hơn.

Không phải ngẫu nhiên những tiếng lòng ấy lại xen giữa lời khuyên gan ruột của Huấn Cao với quản ngục. Có lẽ chính Huấn Cao cũng không biết mình đang nói gì, bởi đây là những lời của tâm thức. Chỉ Nguyễn Tuân biết điều ấy. Những khoảng trông giữa những lời là tiếng gọi lòng đồng cảm, là nơi hò hẹn của tấm lòng hướng về cái đẹp, cái “thiên lương”. Cùng nhau thưởng thức mùi thơm của mực, họ cùng sống trong những phút giây trong sáng nhất... Ngắn ngùi nhưng không vô nghĩa, không lạc lõng. Phảng phất mà quyến rũ đèn không ngờ, hương thơm ấy đã chạy đến nơi sâu nhất của lòng người, làm rung lên những âm thanh ý nhị. Đó chính là sức mạnh chinh phục của nghệ thuật chân chính. Làm nên sức chinh phục ấy là sự đồng hóa của cái tài, cái tâm nghệ sĩ. Nó đâ sinh thành một sự thật đầy tính lãng mạn, sự thật về những tác phẩm hướng về con người, chinh phục trái tim, khối óc con người bằng ánh sáng kì diệu hướng con người đến thiên lương, gìn giữ bản chất trong sáng nguyên sơ của con người - bản chất lương thiện, bản chất nghệ sĩ. Từ Truyện Kiều (Nguyễn Du) tới Chí Phèo (Nam Cao), văn học dân tộc đã không xa rời chức năng cao cả ấy.

Trở lại với lời khuyên của Huấn Cao, ta sẽ cảm nhận sâu sắc sự chinh phục diệu kì của cái đẹp. Là suy tư trải nghiệm mà cũng là gan ruột, lời khuyên giông như ngọn lửa châm vào cảnh khô, làm. bùng cháy lên khát vọng về một sự đổi thay khỏi cái hiện thực trói buộc của cái nghề thất đức, bất lương đề trở về quê sông với bản chất lương thiện sẵn có, đê được chơi chữ, được scíng hết mình với cái đẹp trong sâu thẳm tâm hồn quản ngục. Và rồi:

“Ngục quan cảm động, vái người tù một cái, chấp tay nói một câu mà dòng nước mắt rỉ vào kẽ miệng làm cho nghẹn ngào: “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh”.

Cái cuối đầu của quản ngục là cái cuối đầu khuất phục trước cái tài, cái đẹp, cái thiên lương. Thêm một lần ta được chứng kiến cái cúi đầu làm cho người ta cao quí, lớn lao hơn:

Nhất sinh đê thư bái mai hoa

(Cả đời chỉ biết cuối đầu trước vẻ đẹp của hoa mai)

(Cao Thu Thần)

Ở đây, vị thế của nhân vật hoàn toàn thay đổi. Không phải quản ngục mà chính Huấn Cao, người tử tù hiện lên lồng lộng với lời khuyên sang sảng, đinh đạc. Không còn cách ngăn, Huấn Cao - quản ngục và thầy thơ lại đã “đỡ nhau, dứng dậy, thực sự hòa dồng... tỏa sáng cho nhau: Lửa đóm cháy rừng rực. Ba người nhìn bức chăm rồi lại nhìn nhau..." (Vũ Dương Quỹ) cái đẹp đã gắn kết con người, đã đặt thiên lương lên

trên tù ngục xấu xa, đã làm nôn sự chiến thắng của tài hoa, khí phách. Xây dựng được tình huống đó, Nguyễn Tuân đã bộc lộ tư tưởng nghệ thuật tiến bộ của mình. Tư tưởng tiến bộ cùng với tài năng sẵn có khiên cho những trang văn - trang lòng của nhà văn “cháy lên mà tỏa sáng” (Raxun Gamzatop). Từ Vang bóng một thời tới Người lái đò Sông Đà, văn Nguyễn Tuân rất bay bổng lãng mạn nhưng là cái lãng mạn bắt nguồn từ hiện thực nên mang ý nghĩa tích cực. Nó hướng con người tới cái đẹp, làm “lòng người thêm trong sạch và phong phú hơn”, nhắc ta tránh xa cái xấu để luôn giữ “thiên lương bền vững”. Nó khiến con người gần gũi, gắn bó với nhau hơn trong niềm dam mô cái đẹp. Nó “làm sáng nên những gì vốn đã trong sáng lung linh”, cho ta cách nhìn nhận đánh giá con người trên cơ sở thông nhất của chân - thiện - mĩ. Những điều thánh thiện ấy thể hiện chính trong thế giới nhân vật Nguyễn Tuân. Mỗi hành động của nhân vật xuất phát từ cái tâm đẹp đõ của nhà văn, lấp lánh ánh sáng nhân văn làm rung động lòng người. Hành động Huấn Cao cho chữ quản ngục đã mang thứ ánh sáng huyền diệu đó.

Huấn Cao có tài viết chữ đẹp nhưng tính ông rất khoảnh, trừ chỗ tri kỉ, ông ít chịu cho chữ. Không vì vàng ngọc hay quyền thố mà ép mình viết câu đôi bao giờ. Nhưng khi hiểu rõ tấm lòng chân thành của tấm lòng trong thiên hạ, ông nhận lời cho chữ. Như vậy, uy vũ xích xiềng không làm Huấn Cao sợ, mà tấm lòng trong thiên hạ đã khiên ông xúc động: “những tấm lòng biệt nhỡn liên tài của quản ngục và thầy thơ lại đã có sức mạnh dể Huấn Cao chấp nhận họ như những kể tri kỉ, tri âm” (Vũ Dương Quỹ). Nghĩa là ông đã coi họ như những người bạn thân thiết của mình. Không dễ dàng có tình cảm đó. Nhất là giã - những người khác nhau hoàn toàn, thậm chí đôi lập về chỗ đứng trong xã hội. Huấn Cao tôn trọng họ bởi ông hiểu bản chất tốt đẹp của họ, những kẻ “tôi tỞ nhưng tám hồn không tôi tớ”. Nhẹ nhàng mà sâu sắc, Nguyễn Tuân cho ta một chân lí để đánh giá con người: “Thân phận không phải là hệ quá của bủn chát” (Văn Tâm). Quan niệm nhân sinh ấy mang chiều sâu trí tuệ và tình cảm giúp ta sông nhân ái hơn và những tác phẩm văn học thể hiện nội dung ấy có giá trị chân chính, làm xúc động lòng người. Phải chăng đó là điểm gặp gỡ của những nhà văn, nhà tư tưởng vĩ đại như V. Huygô (Những người khốn khổ), Đôxtôiepxki (Tội ác và trừng phạt), Nam Cao (Chí Phèo) và Nguyễn Tuân với Chữ người chữ tù? Huấn Cao cho chữ để đáp lại một tấm lòng, để thức tỉnh lương tâm, góp phần định hướng nhân cách, bảo vệ thiên lương cho một con người vì hoàn cảnh trỞ trêu mà bị đày ải giữa một đống cặn bã. Là một lời nói mà cũng là hành động, mục đích cao cả mà tự bản thân nó đã là cái đẹp. Cái đẹp là nơi gặp gỡ của những tấm lòng tri kỉ, cái đẹp hướng con người tới thiên lương - hành động. Huấn Cao cho chữ quản ngục đã nhân mãi nhân mãi cái đẹp - tác phẩm chói ngời vẻ đẹp thấm mi. Nó làm nên sức mạnh diệu kì đổi thay vị thê con người, thê hiện sáu sắc trong cảnh Huấn Cao cho chữ:

“Một người cổ deo gông, chân vướng xiềng đang dậm tô nét chữ trên

tấm lụa trắng tinh căng trên mảnh ván. Người tù viết xong một chữ, viên quản ngục lại vội khúm núm cất những đồng tiền kẽm đánh dâu ô chữ dặt trên phiến lụa óng. Và cái thầy thơ lại gầy gò, thì run run hưng chậu mực”.

Khoan hãy nói đến tính kịch, đến chất tạo hình và điện ảnh trong đoạn trông rất giàu tính nghệ thuật này. ở đây, cả ba nhân vật đêu thăng hoa thành những hình tượng kì vĩ phi thường xây dựng những cốt truyện phi phàm, những “con người khổng lồ nhưng có khi phải ngụp lặn dưới đáy xã hội”; đó cũng là một đặc trưng nôi bậc của bút pháp, đó là cả tấm lòng của Nguyễn Tuân. Yêu cái đẹp, tác giả đã bất tử hóa giây phút sinh thành của cái đẹp, bất tử hóa giây phút thiêng liêng, giây phút chuyển giao nhân cách, nhân cách tự do, chuyển giao cái đẹp. Người tử tù đang dậm tô nét chữ, đang dồn cả tâm hồn vào những dòng chữ CUỐI cùng của một đời người, lần cuối cùng khẳng định tài hoa khí phách của mình cho những người tri âm, tri kỉ. Quản ngục vì xót xa trước tài năng bị hủy diệt mà xin chữ Huấn Cao. Ông đã đạt được sở nguyện. Hạnh phúc được chiêm ngưỡng nghệ thuật thư pháp mà trong lòng cứ run run. Xây dựng nhân vật ngục quan đã hết lòng trân trọng, “giữ gìn đến thái độ tôn kính..., rất mực trước thiên lương và thư pháp kiệt xuất của người tù, Nguyễn Tuân đã cất lên  khúc văn ca đối với một mảng văn hóa truyền thông mà đến thời Nguyễn vẫn còn vang bóng” (Văn Tâm). Bất tử hóa văn hóa cổ truyền dân tộc, tác giả đã thế hiện “nỗi xót xa oán hờn thê cục Tây Tàu nhố nhăng đã phạm tội với văn hóa Việt. Thì ra, ý nghĩa sâu xa là ở đó. Thể hiện lòng yêu nước thiết tha kín đáo, đoạn văn rất giàu tính dân tộc, đồng thời cũng rất giàu sắc thái thẩm mĩ. Tất cả hài hòa đan xen nhau bằng cái “tâm”, cái “tài” Nguyễn Tuân. Lớp lớp ý nghĩa trong một hành động. Đoạn văn như bông hoa ngát hương cứ nở mãi trong lòng người đọc, “làm dâng lên những cái gì vốn đã trong sáng, lung linh”.

Xây dựng hành động cho chủ quản ngục và lời khuyên của Huấn Cao, Nguyễn Tuân đã thể hiện quan niệm về cuộc sống và những quan điểm nghệ thuật tiến bộ của mình - đó là sự thông nhâ"t giữa cái tâm - và cái tài, cái đẹp và cái thiện - cái thiên lương. Thể hiện tâm niệm của mình bằng nghệ thuật bậc thầy về sử dụng ngôn ngữ, khắc họa nhân vật, đó là một bằng chứng sông về cái tâm cái tài. Nguyễn Tuân mang bản sắc Nguyễn Tuân, “người ca sĩ của những vẻ đẹp”. Nó hướng con người tới vỏ đẹp thánh thiện với những chân lí sinh ra cao cả. ở đây, thêm một lần ta khăng định Nguyễn Tuân là một nhà tư tưởng tài hoa, một nhà văn chân chính với thế giới quan, nhân sinh quan tiến bộ của mình.

Cái tâm cái tài của người nghệ sĩ luôn đặt ra với muôn đời. Cái đẹp luôn là đích hướng tới của con người. Và bởi thế, lời khuyên của Huấn Cao sau khi cho chữ quản ngục, tiếng lòng của Nguyễn Tuân, “người ca sĩ của những vẽ đẹp” gửi gắm, sẽ còn xanh mãi.

Nguồn: