Phân tích cảnh Thanh minh trong tiết tháng ba trong Truyện Kiều

Thứ bảy , 12/09/2015, 09:33 GMT+7
Phân tích cảnh Thanh minh trong tiết tháng ba trong Truyện Kiều. Một cuộc du xuân - đây là sự kiện mở màn cho cuộc đời thiếu nữ phong lưu và xuân sắc của Thúy Kiều. Cuộc du xuân mở đầu cho phần thứ nhất trong hệ thống ba biến cố thông thường của cốt truyện cổ điển: ‘Gặp gỡ - Tai hiến - Đoàn tụ’. Chúng ta sẽ bắt gập ở đoạn thơ này một bức tranh thiên nhiên sáng tươi xinh đẹp và hội đạp thanh tưng bừng....

Thanh minh trong tiết tháng ba

Một cuộc du xuân - đây là sự kiện mở màn cho cuộc đời thiếu nữ phong lưu và xuân sắc của Thúy Kiều. Cuộc du xuân mở đầu cho phần thứ nhất trong hệ thống ba biến cố thông thường của cốt truyện cổ điển: ‘Gặp gỡ - Tai hiến - Đoàn tụ’. Chúng ta sẽ bắt gập ở đoạn thơ này một bức tranh thiên nhiên sáng tươi xinh đẹp và hội đạp thanh tưng bừng náo nhiệt. Nhưng cũng chính ở phần ‘Gặp gỡ’ mà thông thường sẽ chưa có bóng dáng của tai họa - lại đã xuất hiện một nấm mồ, một cuộc đời và một cảm xúc có màu sắc bi kịch vế số phận của hồng nhan.

1.    Một bức tranh thiên nhiên và một khung cảnh lễ hội

Mặc dầu câu thơ thứ hai trong đoạn có thể đưa đến một liên tưởng, một ấn tượng nào đó về thời gian tuổi thọ, nhưng chủ yếu toàn bộ sáu câu thơ đẩu tiên là một bức tranh thiên nhiên rực rỡ ánh sáng và màu sắc trong trẻo của bầu trời ‘thanh minh’, của hình ảnh đàn chim én bay qua bay lại linh hoạt, nhịp nhàng, của nội cỏ mênh mông một màu tươi sáng pha hòa giữa màu xanh lá cây và màu xanh cỏ non và của một cành lê thanh tú ‘trắng điểm một vài hông hoà’...

Con người trong tiết thanh minh đi sửa sang phần mộ và tìm đến những bóng hình của quá khứ - đó là lễ nghi truyền thống. Nguyễn Du đã chứng tỏ tài năng bậc thầy về ngôn ngữ ngay ở câu thơ tự sự ngắn gọn về một sinh hoạt thông thường: ‘Lễ là tào mộ, hội là đạp thanh’. Nghi lễ vào hội hè có thể có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ, nhưng đó vẫn là hai hình thức sinh hoạt văn hóa có khác biệt: Hội đạp thanh là cuộc vui chơi trên dậm cỏ xanh của lứa tuổi xuân xanh... Hội đạp thanh là một cuộc sống hiện tại và có thể tìm đến những sợi tơ hồng của mai sau... Trong tiết thanh minh, có hồi ức và tưởng niệm quá khứ (‘lễ là táo mộ’) nhưng cũng có khát khao và hoài vọng nhìn về phía trước của cuộc đời (‘hội là đạp thanh’).

Sau câu thơ mở đầu là một bức tranh ‘đượm vè thiên nhiên’ diễm lộ và tươi sáng. Vẫn chỉ là ngòi bút phác họa, chấm phá nhưng chủ yếu nhà thơ đã sử dụng từ ngữ dân tộc (trong đó có những câu thơ có thể gọi là ‘thuần Nồm’), đã lựa chọn những đường nét, những hình ảnh, nhũng màu sắc đưa vào một tổng thể cấu trúc hội họa hài hòa giữa bức phông màu thiên thanh và nhũng cánh chim én đậm màu sắc, sắc nét, giữa cành lê trong trắng trên nền cỏ mùa xuân tươi xanh...

Tiếp theo hình tượng thiên nhiên là ngôn ngữ tự sự về cảnh lễ hội. Một hệ thống danh từ và động từ kép: ‘gần xa, yến anh, chị em, tài tử, giai nhân... nô nức, sắm sửa, dập dìu, ngổn ngang’ biểu hiện những hoạt động nhộn nhịp, náo nhiệt, tươi vui của mọi người và đây lại là một dòng những con người trẻ tuổi ‘nam thanh nữ tú’ với ngựa xe, trang phục đông đúc, chen chúc... Lễ viếng thăm phần mộ tưng bừng, náo nhiệt, xen kẽ ngày hôi giai ngộ của tuổi thanh xuân đã hoàn chỉnh bức tranh mùa xuân khi cỏ cây hoà lá vẫn đang độ tươi xanh rực rỡ, khi không trung và ánh sáng đã trở nên trong trẻo và ấm áp hơn.

Dường như ánh sáng mùa xuân, niềm vui lễ hội đang bao trùm tất cả nhân gian (trong đó có ba chị em họ Vương). Thông qua sinh hoạt du xuân của chị em Thúy Kiều, Nguyễn Du đã khắc hoạ hình ảnh một truyền thống văn hóa lễ hội xa xưa và một cung cách sống cùa gia đình viên ngoại họ Vương.

2.            Một nấm mồ vô chủ và một sô kiếp hổng nhan

Thời gian đã chuyền qua, bóng dương chênh chếch xế chiều 'Tà tà hóng ngả vê tây’. Nhưng đây không chỉ là hoàng hôn của cảnh vật, dường như con người cũng chìm trong một cảm xúc bâng khuâng khó tả. Trong văn học trung đại, chiều tà thường gợi lên ý niệm nhớ nhung, hoài niệm hoặc tàn tạ thê lương ‘Quán thu phong đứng rũ tà huy - Ai dem nhân ảnh nhuộm màu tà dương...’ (Cung oán ngâm khúc). Cuộc du xuân ngoạn cảnh đã xong, đã chấm dứt lễ hội tưng bừng náo nhiệt... Tâm hồn con người dường như cũng ‘chuyền diệu’ theo sự thay đổi của thời gian và tàn cuộc thanh minh để mang chút bâng khuâng thơ thẩn trên dăm đường về... Thời gian và tâm trạng đó báo hiệu sự biến đổi trong không gian. Ở đây chỉ có ba hình ảnh để tả phong cảnh: một dòng suôi nhỏ, chiếc cầu nhỏ và một nấm mồ nhỏ... Cũng vẫn chỉ là ngòi bút phác hoạ qua sáu câu thơ. Đối lập với cảnh đông đúc ồn ào của lễ hội ở trên là một không gian cô tịch với dòng suối nhỏ uốn khúc ‘nao nao’ nhẹ nhàng, dòng suôi bé nhỏ tội nghiệp đến mức chỉ cần một ‘nhịp cầu nho nhỏ’ bắc ngang là đủ để con người đi qua... Miêu tả dòng suối hay là miêu tả nỗi niềm nao nao xao động của lòng người? Giữa cảnh vật và lòng người dường như không có đường viền... Cũng như vậy, Nguyễn Du dùng những trạng từ kép: ‘sè sè, dàu dàu...’ nấm đất thấp bé gợi hình ảnh một số phận nhỏ nhoi. Và riêng ngọn cỏ ở đây không hề mang một màu ‘xanh tận chân trời’ như trên, mà lại chen màu vàng úa và ‘dàu dàu’ héo hon, ủ rũ... Những từ ngữ ‘thanh thanh, nao nao, dàu dàu...’ biểu đạt sắc thái cảnh vật nhưng đổng thời cũng bộc lộ tâm trạng của con người.

Một khung cảnh hoàng hôn báo hiệu ngày tàn đối lập với thiên nhiên trong tiết thanh minh tươi sáng, một nán mồ cô quạnh thê lương đối lập với lễ tảo mộ đông đúc náo nhiệt... Một bức tranh đối lập khiến con người đa cảm phải thốt lên một câu hỏi ngạc nhiên (Rằng: ‘Sao trong tiết thanh minh, Mà đáy hương khói vắng tanh thế mà?’). Khung cảnh hoang vắng thê lương ấy minh chứng một câu chuyện thương tâm về một con người, một cuộc đời và một kết thúc đã bị cuộc đời lãng quên...

Nguồn: