Phân tích cảm nghĩ tác phẩm Hoàng Lê Nhất Thống Chí

Thứ bảy , 12/09/2015, 09:06 GMT+7
Phân tích và nêu cảm nghĩ của em về ‘Hồi thứ mười bốn’ trong tác phẩm ‘Hoàng Lê Nhất Thống Chí’. Trong đó có đoạn ‘Đánh Ngọc Hổi, quân Thanh bị thua trận, Bỏ Thăng Long, Chiêu Thông trốn ra ngoài’.

Bài Làm

‘Hoàng Lê nhất thống chí’là cuốn lịch sử chương hồi của một số tác giả trong  ‘Ngó gia văn phái’. Tác phẩm đã khái quát một giai đoạn lịch sử với bao biến cố dữ dội đảm máu từ khi Trịnh Sâm lên ngôi Chúa đến khi Gia Long chiếm Bắc Hà (1868 - 1802) như: loạn kiêu binh, triều Lê - Trịnh sụp đổ, Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh, Gia Long lật đổ triều dại Tây Sơn...

Sự sụp đổ không thể cưỡng nổi của triều đại Lê - Trịnh và khí thế sấm sét của phong trào nông dân Tây Sơn là hai nội dung lớn được phản ánh qua ‘Hoàng Lé nhất thống chí’. Đặc biệt ‘Hồi thứ XIV’ đã được thể hiện một cách hào hùng sức mạnh quật khởi của dân tộc trước thù trong giặc ngoài và khắc họa hình tượng Nguyễn Huệ, người anh hùng dân tộc đã làm nên chiến công Đống Đa bất từ.

Ta như được sống lại những giờ phú| lịch sử nghiêm trọng và hào hùng của dân tộc vào cuối năm Mậu Thân (1788), đầu năm Kỉ Dậu (1789) khi Lê Chiêu Thống đã rước 29 vạn quân Thanh do Tôn Sĩ Nghị cầm đầu, kéo sang xâm lược nước ta. Tác giả ‘Hoàng Lê nhất thống chí’ mở đầu hồi XIV đã viết:

‘Đánh Ngọc Hổi, quân Thanh bị thua trận,

Bỏ Thăng Long, Chiêu Thông trốn ra ngoài’.

Vị cứu tinh cùa dân tộc thuở ấy là Nguyễn Huệ, người anh hùng áo vải đất Tây Sơn. Ngày 22 tháng 11 năm Mậu Thân, Tổn Sĩ Nghị chiếm Thăng Long. Tướng Ngô Ván Sờ lui binh về án ngữ tại Tam Điệp. Ngày 24, Nguyên Huệ được tin cấp báo, và ngày 25 lên ngôi hoàng đế ‘tếcáo trời đất cùng các thần Sông, thẩn Núi’,lấy niên hiệu là Quang Trung. Nguyễn Huệ đốc xuất đại binh ra Bắc. Ngày 29 đến Nghệ An tuyền thêm một vạn quân tinh nhuệ. Nguyễn Huệ tổ chức duyệt binh truyền hịch đánh quân Thanh, vạch trần âm mưu xâm lược của bọn chúng ‘mưu đổ lấy nước Nam ta đật làm quận huyện;kêu gọi tướng sĩ đổng tâm, hiệp lực, để dựng nên công lớn’... Nhà vua chia quân làm 5 doanh (tiền, hậu, tả, hữu, trung quân) rồi thần tốc ra

Tam Điệp hội quân vói cánh quân Ngô Văn Sở. Quang Trung chia đại quân làm 5 đạo, cho quân ăn tết Nguyên Đán trước, ‘bảo kín’ với các tướng soái đến tối 30 thần tốc đánh quân Thanh, hẹn đến ngày mồng 7 năm mới thì vào thành Thăng Long ‘mở tiệc ăn mừng’. Qua đó, ta thấy rõ Quang Trung có tầm nhìn chiến lược sâu rộng, sáng suốt, giàu mưu lược, nêu cao tinh thần quyết chiến, quyết thắng lũ xâm lăng. Các sự kiện như lên ngôi hoàng đế ở Phú Xuân, tuyền quân và truyền hịch ở Nghệ An, cho quân sĩ ăn tết Nguyên đán trước; đặc biệt, nhà vua đã tạo nên yếu tố bất ngờ đánh quân Thanh vào đúng dịp tết khi chúng ‘chỉ chăm chú vào việc yến tiệc vui mừng, không hề lo chi đến việc bất trắc’ đã thể hiện tinh thần quyết đoán của một thiên tài quân sự khi Tổ quốc lâm nguy.

Tác giả mượn lời người cung nhân cũ để làm nổi bật tính cách anh hùng phi thường của Nguyễn Huệ khi trận Ngọc Hồi chưa xảy ra:

‘Không biết rằng, Nguyễn Huệ là một tay anh hùng lão luyện, dũng mãnh và cố tài cầm quân. Xem hắn ra Bắc vào Nam, ẩn hiện như quỷ thần, không ai có thể lường biết. Hắn bắt Hữu Chỉnh như bắt trẻ con, giết Văn Nhậm như giết con lợn không một người nào dám nhìn thắng vào mặt hắn. Thấy hắn trỏ tay, đưa mắt là ai nấy đã phách lạc hổn xiêu, sợ hơn sấm sét’.

Nguyễn Huệ là một anh hùng có tài điều binh khiển tướng, trù hoạch quân mưu như thần. Ra quân đánh thắng như chẻ tre. Bắt sống toàn bộ toán quân Thanh đi do thám tại Phú Xuyên, dùng mưu gọi loa, vây kín làng Hà Hồi, quân Thanh ‘rụng rời sợ hãi’ phải đầu hàng. Dùng kì mưu kết ba tấm ván thành một bức bén ngoài lấy rơm dấp nước phủ kín, tất cả là 20 bức; mỗi bức có 20 dũng sĩ, lưng dắt dao ngắn dàn thành trận chữ ‘nhất’ xồng thẳng vào đồn Ngọc Hồi. Súng quân Thanh bắn ra đểu vô hiệu. Vua Quang Trung cưỡi voi đốc chiến. Sáng mồng 5, đồn Ngọc Hồi bị tiêu diệt, Sẩm Nghi Đống phải thắt cổ tự tử, hàng vạn giặc bị giết ‘tháy nằm đầy đồng, mâu chảy thành suôi, quân Thanh đại bại’. Vua đã đặt phục binh tại đê Yên Duyên và Đại Áng, họp vây quân Thanh tại Quỳnh Đô, giặc trốn xuống đầm Mực bị quân Tây Sơn ‘lùa voi cho giày đạp, chết đến hàng vạn người’. Thừa thắng, vua Quang Trung tiến vào giải phóng Kinh thành Thảng Long đúng trưa mồng 5 tháng Giêng năm Kỉ Dậu, trước kế hoạch 2 ngày. Có tài thao lược vô song, có tin vào sức mạnh chiến đấu và tinh thần yêu nước của tướng sĩ, của nhân dân ta mới có niềm tin tất thắng ấy. Chiến thắng Đống Đa 1789 đã làm cho tên tuổi người anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ sáng ngời mãi ngàn thu.

Các tác giả ‘Hoàng Lê nhất thống chí’ đã từng ân lộc cùa nhà Lê, vốn có cảm tình với vua Lê nhung trước họa xâm lăng và chiến công Đông Đa oanh liệt, họ đã đứng trên lập trường dân tộc, dã viết nên những trang văn đẹp nhất, dựng lên một tượng đài kì vĩ ,tráng lệ về người anh hùng Nguyễn Huệ. Chỉ mấy năm sau, trong bài ‘Ai tư vãn’ khóc vua Quang Trung qua đời, Ngọc Hân công chúa đã viết:

‘Mà nay áo vải cờ đào,

Giúp dán dựng nước biết bao công trình’.

Đó là hình tượng người anh hùng Quang Trung trong văn học mà ta cảm nhận được với bao ngưỡng mộ.

Bằng biện pháp nghệ thuật tương phản đối lập, các tác giả ‘Hoàng Lê nhất thống chí’ đã miêu tả và nêu bật sự thảm bại của quân Thanh xâm lược và số phận nhục nhã, bi đát của bọn vua quan phản nước hại dân.

Chỉ huy 29 vạn quân Thanh sang xâm lược nước ta là Tôn Sĩ Nghị. Sau khi chiếm được Thăng Long ‘không mất một mũi tên, như vào chỗ không người’ hắn vô cùng ‘kiêu căng buông tuồng’. Bọn tướng tá chỉ biết ‘chơi hời tiệc tùng, không hề để ý gì đến việc quân’. Chúng huênh hoang tuyên bố là đầu xuân sẽ kéo quân thẳng đến sào huyệt của Tây Sơn để ‘hắt sống, không một tên nào lọt lưới!’.

Thê' nhưng, trước sức tiến công như vũ bão của Nguyễn Huệ, bao đồn giặc bị đánh tơi bời. Đồn Hà Hồi phải đầu hàng. Đồn Ngọc Hồi bị đập nát, Sầm Nghi Đống phải tử tự. Hàng vạn giặc phải bỏ mạng ở đầm Mực. Tôn Sĩ Nghị ‘sợ mất mật, ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc giáp... nhằm hướng Bắc mù chạy’. Quân tướng ‘hoàng hồn, tan tác bỏ chạy’. Chúng tranh nhau chạy, xô đẩy nhau rơi xuống sổng. Cẩu phao đứt, hàng vạn giặc bị rơi xuống nước mà chết, đến nỗi nước sông Nhị Hà bị tắc nghẽn. Bọn sống sót chạy tháo thân về nước !

Bọn Việt gian bán nước cẩu vinh như Lê Chiêu Thống, Lê Quýnh, Trịnh Hiến trên đường tháo chạy trở thanh lũ ăn cướp. Chúng bạt vía kinh hồn chạy đến Nghi Tàm, ‘thình lình gặp được chiếc thuyền đánh cá vội cướp lấy rồi chèo sang hờ Bắc’.

Tại cửa ải, Lê Chiêu Thống và bọn cận thần ‘than thở, oán giận, chảy nước mắt’ trông thật bi đát, nhục nhã. Còn Tôn Sĩ Nghị ‘cũng lấy làm xấu hổ’. Chết nhưng nết không chừa ! Lê Chiêu Thống hứa ‘lại xin sang hầu tướng quân’, nghĩa là tiếp tục rước voi về giày mả tổ ! Còn Tôn Sĩ Nghị vẫn khoác lác: ‘Nguyễn Quang Trung chưa diệt, việc này còn chưa thôi !’.

Có thể nói, hình ảnh lũ xâm lược và bọn bán nước được miêu tả bằng nhiều chi tiết châm biếm, thể hiện một thái độ khinh bi sâu sắc.

Đọc ‘Hồi thứ XIV’ (Hoàng Lê nhất thống chí) ta càng thấu rõ tim đen quân xầm lược phương Bắc và âm mưu của Thiên triều, và bộ mặt dơ bẩn của bọn Việt gian bán nước. Ta càng thêm tự hào về truyền thống yêu nước, anh hùng của dân tộc ta, vô cùng kính phục và biết ơn Nguyễn Huệ, nhà quân sự thiên tài của Đại Việt.

Nghệ thuật kể chuyện, bút pháp miêu tả nhân vật lịch sử (Nguyễn Huệ, Lê Chiêu Thống, Tôn Sĩ nghị) rất chân thực và sinh động tạo nên những trang văn hào hùng tuyệt đẹp vừa giàu giá trị văn chương, vừa mang tính lịch sử sâu sắc.

Nguồn: