Phân tích bài thơ Tự Tình của Hồ Xuân Hương

Thứ tư , 28/10/2015, 09:18 GMT+7
ĐẺ: Hãy phân tích bài thơ Tự tình bài 2 của nữ sĩ Hồ Xuân Hương.Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn, Trơ cái hồng nhan với nước non. Chén rượu hương đưa say lại tỉnh, ...

BÀI LÀM

Hồ Xuân Hương là nữ sĩ tài ba Ở nước ta vào cuối thế kỷ XVHI - đầu thế kỷ XIX. Ngoài tập Lưu Hương kí bà còn để lại khoảng 50 bài thơ Nôm, phần lớn là thơ đa nghĩa, vừa có nghĩa thanh vừa có nghĩa tục. Một số bài thơ trữ tình đằm thắm, thiết tha, buồn tủi... thể hiện sáu sắc thân phận người phụ nữ trong xã Hội cũ, với bao khao khát sống và hạnh phúc tình duyên. Chùm thơ Tự tình phản ánh tâm tư tình cảm của HỒ Xuân Hương, của một phụ nữ lỡ thì quá lứa, duyên phận hẩm hiu... Bài thơ này là bài thứ hai trong chùm thơ Tự tinh ba bài.

Thi sĩ Xuân Diệu trong bài  ‘Hồ Xuân Hương bà chúa thơ Nôm ‘ đã viết:  ‘Bộ ba bài thơ trữ tình này cùng với bài  ‘Khóc vua Quang Trung ‘ của công chúa Ngọc Hân làm một nhóm riêng biệt, làm tiếng lòng chân thật của người đàn bà tự nói về tình cảm bản thân của dời mình trong văn học cổ điển Việt Nam... ‘ Ông lại nhận xét thêm về điệu thơ, giọng thơ:  ‘...trong bộ ba bài thơ tăm tình này, bên cạnh bài thơ vẩn  ‘ễnh ‘ nổi nênh và bài thơ vần  ‘om ‘ oàn hận, thi bài thơ vần  ‘on ‘ này mong đợi, chon von ‘.

Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn,

Trơ cái hồng nhan với nước non.

Chén rượu hương đưa say lại tỉnh,

Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn.

Xiên ngang mặt đất rêu từng đám,

Đâm toạc chân mây, dá mấy hòn.

Ngán nỗi xuân di, xuân lại lại,

Mảnh tình san sẻ tí con con!

Hai trong ba bài thơ, nữ sĩ đều nói về đêm khuya, canh khuya. Tự tình bà viết:  ‘Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom - Oán hận trông ra khấp

mọi chòm ‘. Ở bài thơ này cũng vậy, bà tỉnh dậy lúc canh khuya, hay thao thức suốt đêm khuya, tâm trạng ngổn ngang phiền muộn. Am thanh  ‘văng vẳng ‘ của trông từ một chòi canh xa đưa lại như thúc giục thời gian trôi nhanh, tuổi đời người đàn bà trôi nhanh:  ‘Canh khuya văng vẳng trống canh dồn ‘.  ‘Hồng nhan ‘ là sắc mặt hồng, chỉ người phụ nữ.  ‘Trơ ‘ nghĩa là lì ra, chai đi, mất hết cảm giác.  ‘Nước non‘-, chỉ cả thế giới tự nhiên và xã Hội. Cả câu thơ:  ‘Trơ cái hồng nhan với nước non ‘ nói lên một tâm trạng: con người đau buồn nhiều nỗi, nay nét mặt thành ra trơ đi trước cảnh vật, trước cuộc đời, tựa như gỗ đá, mất hết cảm giác. Nỗi đau buồn đã đến cực độ. Từ  ‘cái ‘ gắn liền với chữ  ‘hổng nhan ‘ làm cho giọng thơ trĩu xuống, làm nổi bật cái thân phận, cái duyên phận, cái duyên sô đã quá hẩm hiu rồi. Ta có cảm giác tiếng trông dồn canh khuya, thời gian như cơn gió lướt qua cuộc đời, lướt qua số phận và thân xác nhà thơ. Con người đang than thân trách phận ấy đã có một thời son trẻ tự hào:  ‘Thân em vừa trắng lại vừa tròn ‘, có phẩm hạnh một  ‘tâm lòng son ‘ trọn vẹn, lại tài năng, thế mà nay đang trải qua những đêm dài cay đắng. Qua đó, ta thấy cái xã Hội phong kiến buổi ấy chính là tác nhân đã làm xơ xác, khô héo phận hồng nhan.

Đằng sau hai câu đề là những tiếng thở dài ngao ngán. Cố vẫy vùng để thoát ra, bươn ra khỏi cái nghịch cảnh nhưng đâu dỗ! tiếp theo là hai câu thực:

Chén rượu hương dưa say lại tỉnh Vầng trăng bóng xê khuyết chưa tròn.

Nghẹ thuật đối rất thần tình:  ‘Chén tình ‘ với  ‘vầng trăng ‘, trên thì  ‘hương đưa ‘, dưới lại có  ‘bóng xế ‘, đặc biệt ba chữ  ‘say lại tỉnh ‘ với  ‘khuyết chưa tròn ‘ đang đối, hô ứng nhau làm nổi bật bi kịch về thân phận người đàn bà dang dở, cô đơn. Muốn mượn chén rượu để khuây khỏa lòng mình, nhưng vừa nâng chén rượu lên môi mùi hương phả vào mặt, đưa vào mũi. Tưởng uống rượu cho say để quên đi bao nỗi buồn, nhưng càng uống càng tỉnh.  ‘Say lại tỉnh ‘ để rồi tỉnh lại say, cái vòng luẩn quẩn ấy về duyên phận của nhiều phụ nữ đương thời, trong đó có Hồ Xuân Hương như một oan trái.

Buồn tủi cho thân phận, bao đêm dài thao thức đợi chờ, nhưng tuổi đời ngày một  ‘bóng xế ‘. Bao hi vọng đợi chờ. đến bao giờ vầng trăng mới  ‘tròn ‘? Đến bao giờ hạnh phúc đến trong tầm tay, được trọn vẹn, đầy đủ? Sự chờ mong càng đau buồn, đó là bi kịch của những người đàn bà quá lứa lỡ thì, tình duyên ngang trái, trong đó có Hồ Xuân Hương.

Hai câu trong phần luận, tác giả lấy cảnh để ngụ tình. Đây là hai câu thơ tả cánh  ‘lạ lùng ‘ được viết ra giữa đêm khuya trong một tâm trạng chán ngán, buồn tủi:

Xiên ngang mặt đất rêu từng dám,

Đâm toạc chân mây đá mẩy hòn.

Ý thơ cấu trúc tương phản để làm nối bật cái dữ dội, cái quyết liệt của sự phản kháng. Từng đám rêu mềm yếu thế mà cũng  ‘xiên ngang

mặt dất ‘ được! Chỉ có rải rác  ‘đá mấy hòn ‘ mà cũng có thể  ‘đâm toạc chân mây ‘ thì thật kì lạ! Hai câu thơ, trước hết cho ta thấy thiên nhiên tiềm ẩn một sức sống đang bị nén xuống đã bắt đầu bật lên mạnh mẽ vô cùng. Thiên nhiên trong thơ Hồ Xuân Hương không chỉ mang màu sắc, đường nét, hình khối mà còn có gương mặt, có thái độ, có hành động, cũng  ‘xiên ngang... ‘, cũng  ‘đâm toạc‘... mọi trở ngại, thê lực. Xuân Hương vốn tự tin và yêu đời. Con người ấy đang trải qua nhiều bi cực vẫn cô gắng gượng với đời. Phản ứng mạnh mẽ, dữ dội nhưng thực tại vẫn chua xót. Đêm đã về khuya, giữa cái thiên nhiên dào dạt, bốn bề mịt mùng bao la ấy, người đàn bà hẩm hiu càng cảm thấy cô đơn hơn bao giờ hết. Chảng thế mà trong bài Tự tình I, nữ sĩ đã buồn tủi viết:

Mõ thảm không khua mà củng cốc,

Chuông sầu chẳng đánh cỞ sao om?

Cả nỗi đau trần thố như dồn tụ lại đáy lòng một người đàn bà cô đơn. Khao khát được sông trong hạnh phúc, được làm vợ, làm mẹ như mọi người đàn bà khác. Nhưng  ‘hóng hồng bạc mệnh‘ Đêm càng về khuya, người đàn bà không thô nào chợp mắt được, trằn trọc, buồn tủi, thân đơn chiếc, thiếu thôn yêu thương, xuân đi rồi xuân trở về, mà tình yêu chí được  ‘san sẻ tí con con ‘ phải cam chịu cảnh ngộ:

Ngán nỗi xuân di, xuân lại lại,

Mảnh tình san sẻ tí con con.

Xuân đi qua, xuân trở lại, nhưng với người phụ nữ thì  ‘mỗi năm mỗi tuổi như đuổi xuân đi ‘... Chữ  ‘ngán ‘ nói lên nỗi đau, nỗi buồn tủi của người đàn bà lỡ thì quá lứa, đang trải qua sự mòn mỏi, đợi chờ. Tình duyên, tình yêu như bị tan vỡ, tan nát thành nhiều  ‘mảnh ‘, thế mà chua chát thay chỉ được  ‘san sẻ tí con con ‘. Câu thơ là tiếng than thân trách phận. Phải chăng đây là lần thứ hai HỒ Xuân Hương chịu cảnh làm lẽ? Tình đã vỡ ra thành  ‘mảnh ‘ lại còn bị  ‘san sẻ ‘, đã  ‘tí ‘ lại  ‘con con ‘. Mỗi chữ như rưng rưng những giọt khóc. Câu thơ này, tâm trạng này được nữ sĩ nói rõ thêm trong bài Lấy chồng chung:

Kẻ đắp chăn bông, kể lạnh lùng,

Chém cha cái kiếp lấy chổng chung,

Năm thì mười họa chăng hay chớ,

Một tháng đối lần có cũng không!...

Tóm lại, Tự tình là lời tự than, tự thương xót, buồi tủi cho duyên số, duyên phận hẩm hiu của mình. Càng thao thức cô đơn, càng buồn túi. Càng buồn tủi, càng khao khát được sông trong hạnh phúc trọn vẹn, đầy đủ. Thực tại nặng nề, cay đắng bủa vây, khiến cái hồng nhan phơi ra,  ‘trơ ‘ ra với nước non, với cuộc đời. Người đọc vô cùng cảm thông với nỗi lòng khao khát sông, khao khát hạnh phúc của nữ sĩ và người phụ nữ trong xã Hội cũ. Giá trị nhân bản là nội dung sâu sắc nhất của chùm thơ Tự tình của Hồ Xuân Hương.

Cách dùng từ rất đặc sắc, độc đáo thế hiện phong cách nghệ thuật HỒ Xuân Hương:  ‘trơ cái hồng nhan‘,  ‘say lại tỉnh‘,  ‘tí con con‘... Chữ dùng sắc nhọn, cảnh ngụ tình, diễn tả mọi đau khổ bi kịch về duyên số. Qua bài thơ

này, ta càng thấy rõ Hồ Xuân Hương đã đưa ngôn ngữ dân gian, tiếng nói đời thường vào lời ca, bình dị hóa và Việt hóa thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật. Bà xứng đáng là  ‘Bà chúa thơ Nôm ‘ của nền thi ca dân tộc.

Nguồn: