Phân tích bài thơ qua đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan

Thứ sáu , 27/11/2015, 09:02 GMT+7
Tả cảnh ngụ tình là một hình thức quen thuộc trong văn học trung đại. Mỗi bài thơ là một nỗi niềm tâm sự riêng tư, kín đáo, là những gửi gắm sâu xa. Nguyễn Trãi bâng khuâng, tự hào, nhớ...

DÀN BÀI

I.        Mở bài

Giới thiệu mô tip tả cảnh ngụ tình trong lịch sử văn học Việt Nam và bài thơ Qua đèo Ngangcủa Bà Huyện Thanh Quan.

II.      Thân bài

*        Khung cảnh buổi chiều nơi đèo Ngang:

-Rừng núi hoang vu, tĩnh mịch

-Thiên nhiên mênh mông, hoang dã

-Bức tranh gợi đường nét hài hòa, có cỏ, cây, hoa, lá, đá, núi đá, tảng đá, vách đá,...

-Bóng người xuất hiện dưới chân núi phía xa

Nhờ nghệ thuật đối ngữ, đổi trật tự cú pháp cùng với các từ láy “lom khom”, “lác đác” và các số từ vô định “vài”, “mấy” thật điêu luyên mà bức tranh tho' trở nên gợi cảm hơn, sắc sảo hơn nhưng hiu quạnh hơn.

-Trong cảnh sắc hoang vu đó, tiếng chim quốc quốc và gia gia vọng lên nghe não nề, đau đớn, xót xa. Tiếng chim nơi thiên nhiên hoang dã đã khơi gợi trong lòng nhà thơ nỗi nhó' quê hương.

*        Phân tích tâm trạng của nhà tho' trong hai câu thơ cuối.

III.    Kết bài: Khẳng định giá trị của bài Qua đèo Ngang.

BÀI LÀM

Tả cảnh ngụ tình là một hình thức quen thuộc trong văn học trung đại. Mỗi bài thơ là một nỗi niềm tâm sự riêng tư, kín đáo, là những gửi gắm sâu xa. Nguyễn Trãi bâng khuâng, tự hào, nhớ thương da diết dĩ vãng xa xưa ở Cửa biền Bạch Đằng.Nguyễn Khuyên man mác, Ưu tư trong bài Câu cá mùa thu.Còn Bà Huyện Thanh Quan bàng bạc, lẻ loi khi bước chân Qua Đèo Ngang:

Bước tới đèo Ngang bóng xế tà,

Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.

Lom khom dưới núi, tiều vài chú,

Lác đác bên sông, chợ mấy nhà.

Nhớ nước đau lòng, con quốc quốc,

Thương nhà mỏi miệng, cái gia gia.

Dừng chân đứng lại, trời, non, nước,

Một mảnh tình riêng, ta với ta.

Mở đầu bài thơ, nữ sĩ tả thời gian mình đặt chân đến:

Bước tới đèo Ngang bóng xế tà.

Đó là khung cảnh buổi chiều nơi rừng núi hoang vu, tĩnh mịch.

Chiều ởchôn này thường buồn. Nỗi buồn len vào hồn, vào da thịt, sâu sắc, kín đáo và âm ỉ. Không buồn làm sao được trước cảnh bóng ngả, chiều buông sau đồi? Chữ “tà” với âm “a” nghe ngân vang, tha thiêt. Âm vang ấy như kéo dài ra, buổi chiều cô tịch như càng dài hơn. Và không buồn sao được khi người lữ khách là thi sĩ xa cách quê nhà với bao tình cảm luyến thương, sâu nặng?

Tâm trạng của Bà Huyện Thanh Quan nơi đây gợi chúng ta nhớ đến hai câu thơ của đại thi hào Nguyễn Du:

Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu,

Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?

Khung cảnh thiên nhiên mênh mông, hoang sơ òa vào lòng nữ sĩ như một người thân, như muốn làm bạn đường để khuây khỏa nỗi buồn đau đáu:

Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.

Đây là một bức tranh gợi đường nét hài hòa, có cỏ, cây, hoa, lá, đá, núi đá, tảng đá, vách đá, chúng chen chúc nương tựa lẫn nhau.

Có bóng người xuất hiện dưới chân núi phía xa xa:

Lom khom dưới núi, tiều vài chú.

và bên kia sông:

Lác đác bèn sông, chợ mấy nhà.

Trong hai câu thực này, chúng ta thấy nhà thơ đã sử dụng nghệ thuật đối ngữ, đổi trật tự cú pháp cùng với các từ láy “lom khom”, “lác đác” và các số từ vô định “vài”, “mấy” thật điêu luyện. Nhờ vậy, bức tranh thơ trở nên gợi cảm hơn, sắc sảo hơn nhưng hiu quạnh hơn.

Ởhai câu đề, chúng ta nói cảnh buồn, người buồn, một bức tranh thiếu bóng dáng con người. Còn ở hai câu thực này, con người đã xuất hiện, sao cảm giác buồn cũng chẳng vơi đi?

Đơn giản thôi! Có người đấy chứ! Cũng giống như Nguyễn Khuyến lấy “động” để tả “tĩnh”, ơ đây, Bà Huyện Thanh Quan lấy cảnh có con người đế tả cảnh thiếu con người. Cho nên nỗi buồn có tính chất tăng cấp.

Nếu như ờ hai câu đề chúng ta vừa đặt chân vào cửa ngõ của nỗi buồn, ở hai câu thực chúng ta tiến sâu thêm một bước nữa vào thế giới nội tâm của nỗi buồn thì ở hai câu luận, chúng ta sắp đến hang động của nỗi buồn:

Nhớ nước đau lòng, con quốc quốc,

Thương nhà mỏi miệng, cái gia gia.

Trong cảnh sắc hoang vu đó, tiếng chim quốc quốc vọng lên nghe não nề, đau đớn, xót xa; tiếng chim gia gia gào lên thảm thiết, mệt mỏi, rã rời.

Tương truyền chim quốc (chim cuốc) là hóa thân của Thục Đế, vì buồn đau mất nước mà ngày đêm kêu mãi không thôi. Còn chim gia gia (chim đa đa) là hóa thân của hai ông Bá Di, Thúc Tề, người đời Ân; khi nhà Chu cướp ngôi nhà Ân, cả hai bỏ vào núi Thú Dương ăn rau vi, đến chết không chịu ăn thóc nhà Chu.

Như vậy, ở hai câu luận nhà thơ vẫn giữ nguyên phép đổi trật tự cú pháp, phép đối ngữ và sử dụng thêm điển tích, phép nhân hóa và chơi chữ. Đặc biệt nghệ thuật chơi chữ rất uyên thâm: “quốc” là con chim quốc còn có nghĩa là “nước”; “gia” là con chim gia gia (đa đa) còn có nghĩa là nhà. Đó là phép chơi chữ vận dụng trên cơ sở của từ đồng âm khác nghĩa. Tất cả các biện pháp nghệ thuật này đã nói lên được nỗi trông trải, nhó' nhung, cô đơn, buồn thương da diết trong lòng nữ sĩ Thanh Quan. Phải chăng tiếng chim nơi thiên nhiên hoang dã đã khơi gợi trong lòng nhà thơ nỗi nhớ quê hương, xứ sở ởmiền Bắc mà bà vừa xa cách để về kinh đô để nhận chức “cung trung giáo tập”?

Thật ra, từ xưa đến nay, nhiều nhà nghiên cứu văn học đã đưa ra rất nhiều cách hiểu về hai câu thơ này, chẳng hạn, có ý kiến cho rằng tiếng chim khắc khoải ấy chính là nỗi niềm hoài cổ của nữ sĩ. Vì không bằng lòng với những tiêu cực của nhà Nguyễn đương thời nên nhà thơ nhớ thương, luyến tiếc nhà Lê trước kia.

Mặt khác, tâm trạng này thường gặp trong các bài thơ khác của Bà Huyện Thanh Quan. Trong hai câu kết bài Thăng Long thành hoài cổ,nữ sĩ viết:

Ngàn năm gương củ soi kim cổ,

Cảnh đấy người đây luống đoạn trường.

Bây giờ, chúng ta hãy đến với trung tâm của cõi buồn ở hai câu kết: Dừng chân đứng lại, trời, non, nước,

Một mảnh tình riêng, ta với ta.

Chao ôi! Khung cảnh thiên nhiên mênh mông quá, dịu vợi quá! Đứng giữa đèo Ngang nhìn đâu cũng chỉ thấy trời, non, nước nên một chút tâm sự riêng tư này biết tỏ cùng ai?

Đọc lại hai câu kết này, chúng ta chợt nhớ đến hai câu kết trong bài Bạn đến chơi nhàcủa Nguyễn Khuyến - thế hệ sau của Bà Huyện: Đầu trò tiếp khách, trầu không có,

Bác đến chơi đây, ta với ta.

“Ta với ta” trong thơ cụ Tam Nguyên Yên Đỗ là nhà thơ với bạn của mình (“ta” với “bác”). Còn “ta với ta” trong thơ nữ sĩ là một sự đốidiện của nữ sĩ với chính bản thân. Buồn, nhà thơ tìm đến cảnh thiên nhiên để giải khuây, đến với cảnh thì cảnh buồn hiu hắt, quay về với lòng mình thì gặp nỗi cô đơn.

Tóm lại, Qua Đèo Nganglà một bài thơ hay, hay bởi cách nhìn của một hồn thơ trác việt, vừa đắm say trước cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ và mĩ lệ của đất nước, vừa thể hiện được tình cảm thâm trầm, sâu lắng củà con người; hay bởi lời thơ súc tích, cô đọng, “ý tại ngôn ngoại”.

Hình ảnh đèo Ngang trong thơ Bà Huyện Thanh Quan không bao giò' phôi pha trong tiềm thức của độc giả dù chưa một lần dặt chân đến đèo Ngang.

Nguồn: