LÀM VĂN
Thông tin doanh nghiệp
NEWS  |  TAGS

399B Trường Chinh, phường 14, quận Tân Bình, TP.HCM

  • Phân tích
  • Phân tích bài thơ đây thôn vĩ dạ của Hàn Mặc Tử

Phân tích bài thơ đây thôn vĩ dạ của Hàn Mặc Tử

Đề: Cảnh vườn quê hiện lên thật đẹp nhưng lại thấm đượm nồi buồn da diết bâng khuâng trong Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử. Phân tích bài thơ để chứng minh điều đó.

BÀI LÀM

Tôi đã trót yêu cái buồn trong thơ Hàn Mặc Tử - người thi sĩ tài hoa bạc mệnh. Dường như khoảng thời gian ngẩn ngủi Hàn Mặc Từ hiện hữu trên đời này là để yêu. Yêu điên cuồng thế giới... cho dù bệnh tật hành hạ. Nỗi buồn trong thơ ông có những cung bậc khác nhau, lúc thê thảm thiết tha, khi chở nặng một chút lòng man mác, nhưng tất cả đều dội lên một niềm khát khao sống tột độ. Có những câu thơ, bài thơ đọc lên ta cảm thấy day dứt, có những bài thơ truyền cho tôi cảm giác buồn da diết. Đây thôn Vĩ Dạ là một bài thơ như thể đượm một nỗi buồn da diết bâng khuâng:

Sao anh không về chơi thôn Vĩ? Nhìn nắng hàng cau nấng mới lên Vườn ai mướt quá xanh như ngọc Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

Gió theo lối gió mây đường mây Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay Thuyền ai dậu bến sông trăng đó Có chở trăng về kịp tối nay?

Mơ khách dường xa, khách dường xa Ao em trắng quá nhìn không ra ở  đây sương khói mờ nhãn ảnh Ai biết tình ai có dậm đà?

Vườn cây Huế mộng và thơ, đẹp nhưng là vé đẹp của một bức tranh nhạy cảm. Cái nắng thanh tân của sớm mai nơi thôn Vĩ như rải những vệt sáng lấp lóa trên những cành lá còn ướt đẫm sương đêm. Buổi mai vàng, khi ùa lòng mình vào Vĩ Dạ, hòa vào cỏ cây, và thẳng tắp những hàng cau đang hứng đẩy buồng nắng. Nắng hàng cau, có lõ chỉ có thôn Vĩ mới có cái nắng tinh khôi ấy, ta như cảm giác được cả hương thơm của nắng tỏa xuống không gian, cái hương rất nhọ của hoa cau mới nở. Nhìn nấng hàng cau nắng mới lên, câu thơ có bảy chữ nhưng có đến hai chữ nắng tạo trong ta cái cảm giác về cấp độ của ánh sáng. Đầu tiên là nhìn nắng. Đó là sự chủ động, ta định hướng được và từ đó vươn lên một góc nhìn tập trung nắng hàng cau để rồi đón nhận cảm giác tươi mới trinh nguyên nắng mới lên. sắc nắng, vị nắng trộn hòa vào cảnh vật vừa vút lên cao trong cái tầm thanh thoát của hàng cau xứ Huế, lại vừa chợt như ùa xuông, tỏa rộng trằn lên tất cả. Vườn ai mướt quá xanh như ngọc, câu thơ cứ như là buột miệng, như không kiềm nổi lòng mình phải reolên khi bắt gặp cái sắc' màu biếc xanh như ngọc ấy. Vườn ai đó chợt sáng bừng lên, làm rạng rỡ cả một khoảng không gian của trời đất, mượt mà tươi non. Cảnh thôn Vĩ buổi sớm mai tưởng như được tắm táp bằng một trận mưa rào, cây cốì vô cùng tinh khôi, chỉ còn những giọt nước rất nhỏ bám vào cành lá đợi chờ từng tia nắng sớm xuyên qua. Có lẽ chỉ cần từ mướt là đủ, song từ xanh càng làm nổi bật cái tươi mát, xum xuê của Vĩ Dạ. Người dân Huế thường đồng nghĩa hai từ “vườn” và từ “nhà”, bởi ở nơi đây mỗi ngôi nhà đều được bao quanh bởi vườn cây. Mỗi nhà có một khoảng khá rộng, ngôi nhà nhỏ được đặt giữa, xung quanh là cây cối tạo nôn một cấu trúc thẩm mỹ rất gắn kết, hài hòa. Đan cái mạch của sự ngờ ngàng, cáu thơ tiếp theo là một sự phát hiện mới, hòa vào trong không gian tinh khiết ấy, thấp thoáng một dáng nét của con người:

Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

Có sự xuất hiện của con người, thiên nhiên như càng được thổi thêm một luồng sinh khí, tạo nên nét đẹp hài hòa trong giá trị tạo hình. Đó là con người VỚI vẻ đẹp kín đáo, dịu dàng, đến hậu của xứ Huế. Tất cả như một lời chào mời tha thiết, vừa như trách móc dồi hờn:

Sao anh không về chơi thôn Vĩ?

Hình như ta cám thấy có hai nhân vật trữ tình trong bài thơ, một người đang trách móc xa xôi sự vô tình của người kia đối với một kỉ niệm đẹp. Còn nhân vật trữ tình thứ hai thì bàng hoàng tiếc nuôi vì lời trách:

“cảnh đẹp đến nhường ấy sao anh không về chơi”. Câu mở đầu cho bài thơ, một lời mời chào và còn hàm chứa cả một nỗi niềm tiếc nuối, day dứt. Có thể thây những cảnh đẹp của vườn Vĩ Dạ chỉ là một lớp vỏ ngoài của một nỗi lòng đang khắc khoải. Rõ ràng bài thơ không chỉ đơn thuần thể hiện cái tình đôi với Huế, còn đôi với một bóng hình giai nhân. Bài thơ được làm ở Quy Nhơn, nên những cảnh Huế chỉ là trong tướng tượng. Thi nhân là một người đa cảm, lại đang phải sông cách biệt với những người thân yêu của mình nên hơn bao giờ hết thòm được sông lại những ngày tháng cũ, những kỉ niệm êm đềm. “Sao anh không về chơi thôn Vĩ? ”. Hay chăng đó chính là lời của thi nhân, người đã nhập vai một người khác để thế hiện lòng mình, nói một lời chào, lời mời gọi thiết tha. Nhưng ngay sau đó người đã bừng tỉnh, đã nhận ra đó chỉ là sự tướng tượng, là giấc mơ của chính mình. Bởi vì, thôn VI chí còn là hoài niệm, chỉ còn là sự đi về trong tâm tưởng nhớ thương của một con người đang cần lắm một tình yêu, một tâm hồn để sưởi ấm lòng. Cho nên cảnh hiện lên thật đẹp nhưng lại vẫn thâm đẫm một nỗi buồn sâu lắng. Và chính bởi cái buồn da diet ấy nên nguồn mạch của những kỉ niệm vẫn không bị phá vỡ, nhưng tiếp theo, không còn là cái thanh tân của một buổi sớm mai nơi thôn Vĩ mà chợt chuyến sang cảnh sông nước, của dòng sông Hương, của mây và gió: “Gió theo lối gió mây dường mây”.

Ớ khố thơ thứ hai, mỗi câu thơ như trải ra thật chậm chạp nhẹ nhàng và cũng thanh thoát như hồn người xứ Huế. vẫn là hình thức tả cảnh thiên nhiên, nhưng thi nhân vẫn để lộ ra cái tình thật của lòng mình, vẫn chưa thoát ra được cái mộng ảo của tâm hồn. Gió và mây, đều gợi sự chia li. “Lôi gió”, “đường mây”, cái ranh giới mỗi lúc như được nới rộng thêm ra, càng làm tăng thêm khoảng phàn cách mây và gió. Mỗi từ được nhắc lại hai lần trong một cáu thơ, cách lặp lại ấy như càng bị đây ra một khoảng xa hơn. Sự li tán đó có phái chăng cũng chính là sự li tán của con người. Câu thơ như bị bứt ra, đẩy ra xa, chứ không. gãy đôi, càng tạo thêm cái da diet đến não lòng người. Như rạch vào nỗi đau chia lìa. Đến đây không còn cái tươi mới rạo rực như ở khổ đầu nữa mà chuyến sang cái gam màu của sự trầm lắng: “Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay”. Cảnh đẹp nhưng buồn quá, hay bởi thi nhân đang trải cả hồn mình lên cánh vật. Xưa nay “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” (Nguyền Du). Hơn lúc nào hết, thi nhân bây giờ mới cám nhận thật sâu sắc lòng mình, nhìn dòng nước trôi lừng lờ, thây sự chuyển động của thiên nhiên như chậm lại, nhưng các chiều không gian vẫn mở và sâu hun hút càng tăng them sự đơn côi. Hai chữ buồn thiu được đặt giữa dòng thơ lan toả cái buồn lặng lẽ rủ lên dòng nước đang chảy trôi vừa như khẽ lay hoa bắp trên sông, rung nhẹ lên một nỗi buồn hiu hắt. Trong tâm trạng buồn trĩu nặng của cảnh chia li ấy, lại đang đắm mình trong ảo mộng của màu trăng, nhà thơ như chợt cuông quýt với một lời nhắn gửi:

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó Có chớ trăng về kịp tối nay?

Mộng ảo quá, thiên nhiên như thấm đẫm một màu trăng. Mới ở khổ một còn đang là một bức tranh thiên nhiên ngợp ánh nắng, đến bảy giờ là nhuốm ánh trăng. Câu thơ nào cũng tỏa lên một sắc màu, đều có nét ánh lên, càng làm cho hồn người đa cảm nhận rõ hơn sự trống trải, đơn lạnh cứa chính mình. Con thuyền thấp thoáng trong lòng thi nhân như chợt rung lên mãnh liệt nhưng vần ở trong trạng thái rất đỗi mơ hồ, không xác định.

Thơ Hàn Mặc Tử dường như luôn có sự thâm nhập của ánh trăng, nên bao giờ cũng tạo ra một vẻ đẹp kì ảo của mộng và thơ. Giữa cái mênh mang hư ảo, trăng như thắm vào từng kẽ lá, trộn hòa vào từng dòng nước nhỏ. Dòng sông chở đầy ánh trăng, sông trăng. Chi có Hàn Mặc Tử mới có thể tưởng tượng ra được cái sông trăng ấy của dòng sông Hương. Ánh trăng huyền ảo tràn đầy vũ trụ, tạo nên một không khí hư ảo, và chỉ trong cái mộng ảo đó mới có thể cảm nhận được sông trăng, bến trăng và thuyền mới có thể chở trăng về như một du khách trên sông Hương. Ta cùng bắt gặp hình ảnh thuyền chớ trăng ấy trong thơ:

Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền.

(Hồ Chí Minh)

Hai câu thơ đều mang hình ảnh sông, trăng, thuyền song lại có hai tâm thế hoàn toàn khác nhau. Người thơ ở đây dang rất đơn côi, đang khao khát ai đó sẻ chia tâm sự: “Có chớ trăng về kịp tối nay” là cá một nỗi lòng, là sự mong đợi, một câu hói gần như là khắc khoái bồn chồn. Con thuyền ngẩn ngơ trôn bến vắng tạo nên trong lòng người một niềm phấp phỏng, hi vọng, chờ đợi một cái gì đang rời đi, biết có khi nào quay trở lại. Nỗi niềm ấy đang ngập dâng lên trong lòng thi sĩ. Cả bôn câu thơ của khố hai là sự ảo hóa của bút pháp tài tình làm cho cảnh thêm huyền ảo và tình càng dâng lên vời vợi say đắm.

Câu thơ mang một nỗi niềm bâng khuâng, một sự tiếc nuôi. Rồi vẫn trong cái mạch hư ảo ấy.

Mơ khách đường xa, khách đường xa Ảo em trắng quá nhìn không ra.

Ớ khổ thơ cuối này, niềm bâng khuâng, sự quyến luyến trước cảnh trời mây sông nước như trải rộng ra một cảm giác mông lung của hư thực. Nhưng dù mông lung, dù huyền áo nhìn không ra, nhưng vẫn cảm nhận rất rõ một bóng hình người con gái, song lại không thế nào nắm bắt được, lại vần là trong ảo trong mơ. Cái hình bóng chập chờn ấy càng làm tăng thêm sự khắc khoải bồn chồn của lòng người đa cảm. Cảm giác gần mà lại như hụt xa bới nhà thơ chỉ có thể cảm nhận được cái màu áo trắng thoắt ấn hiện mà không thể nhìn bằng thị giác của mình. Màu sắc trắng chỉ còn là một ấn tượng càng làm cho sự hụt hẫng tới cao độ, muốn bấu víu, cầm nắm mà hư ảo hóa, lại bị chìm trong màu của khói sương: ở  đây sương khói mờ nhân ảnh.

Bóng hình của giai nhân mờ ảo trong sương, nhưng cũng có thê đó là một ân ý của người thơ. Sương khói ấy phải chăng là khoảng cách là thời gian, là màu của một mối tình vô vọng Ai biết tình ai có dậm đà?

Tự cắt nghĩa trong một câu hỏi bâng khuâng, nhà thơ như càng trào lên một sự băn khoăn vừa da diết xót xa.

Những câu hỏi tu từ trong bài thơ cứ xoáy lên. Những hình ảnh về mãnh vườn xanh mướt, về bôn sông trăng, về con thuyền và cả mối tình như vô tình làm nhòe đi đổ tạo nót mênh mang. Rồi hàng loạt các từ vườn ai, tịnh ai, ai biết... cũng thề hiện cái mênh mang ấy. Mỗi khổ thơ là một câu hỏi, một niềm day dứt của lòng người: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ? ”, “Có chở trăng về kịp tối nay? ”. Và câu cuối cùng cũng là để kết thúc bài thơ: “Ai biết tình ai có đậm đà? ”. Âm “a” như ngán, kéo dài ra, bâng khuâng buồn. Ảm hưởng của bài thơ là buồn, nhưng không làm cho người ta bi lụy, bởi đằng sau nỗi niềm ấy của thi nhân, ta thấy một khát vọng về cuộc sống ấm tình hơn. Những chi tiết, những thủ pháp nghệ thuật, cách cấu tứ đã được Hàn Mặc Tử chuyên chở bằng chính tình cảm của mình. Đọc cả bài thơ, ta không thấy có gì gượng ép, ngược lại ta như đang cùng sông với nhà thơ trong cái thế giới huyền ảo của ông. Bài thơ là sự đan cài, giao thoa của tình của cảnh, bộc lộ những nét đẹp, cái trong sáng gắn với quê hương Vĩ Dạ.

Cảnh đẹp nhưng đượm một nỗi buồn bâng khuâng da diết. Dây thôn Vĩ Dạ như một biện chứng tình cảm của Hàn Mặc Tử, một nhà thơ đa tình đa cảm. Con người luôn khao khát vươn tới sự thánh thiện của cuộc đời ấy đã sông hết mình trong sự đau đớn của tinh thần và thê xác. Cái buồn da diết của thi nhân còn là tâm trạng của một lớp thanh niên lúc bấy giờ yêu cuồng nhiệt, thiết tha nhưng không thoát khỏi nỗi buồn thời đại.

Dây thôn Vĩ Dạ là bức tranh đẹp nhưng rất khó vẽ. Bởi cái thần kì ảo, cái tình da diet và có lẽ đó chính là cái làm cho bài thơ sống mãi.