Chứng minh ca dao Việt Nam là những viên ngọc quý

Thứ bảy , 24/12/2016, 10:39 GMT+7
Hãy chọn một vài bài ca dao - dân ca Việt Nam da đọc để chứng minh ý kiến của Bác Hồ: “Những sáng tác ấy là những viên ngọc quý”.

DÀN BÀI

Có những giá trị sẽ bị quy luật thời gian đào thải nhưng có những giá trị mà thời gian càng khẳng định giá trị tồn tại vĩnh hằng. Những bài ca dao dân ca hay trong-kho tàng văn học dân gian Việt Nam đã thể hiện được giá trị bất chấp bụi thời gian. Cho nên Bác Hồ khi phát biểu về ca dao dân ca đã nói rằng ca dao dân ca là những viên ngọc quý.

Thế nào là viên ngọc quý? Ngọc là loại trang sức rất đẹp, có màu sắc tươi đẹp, chất trong sáng lấp lánh, luôn luôn tỏa sáng khiến mọi người thích ngắm nhìn. Nhất là khi nó qua tay người thiên tài thì nó không còn một khuyết điểm nào, nó không còn một tì vết nào, và trở thành hoàn hảo, vô giá.

Ca dao dân ca hay cũng như viên ngọc dược mài giũa trau chuốt bởi bàn tay, khối óc của nghệ sĩ dân gian đầy tài năng, nên nó có giá trị nội dung và nghệ thuật tinh vi mà nó giữ được cái vẻ tự nhiên, vân giữ được bản sắc giản dị mà đẹp đẽ của nó.

Thử chọn vài bài ca dao đã học để khẳng định giá trị hoàn hảo về cả hai mặt nội dung và nghệ thuật của ca dao dân ca Việt Nam.

Bài “Nụ tầm xuân”

Là một bài ca dao hay về ý đẹp về lời.

• Với thể thơ lục bát gián thất biến thể, bài thơ không tuân thủ một quy cách nào về thi lực nhưng lại là một ưư điểm trội bậc vì nó đă góp phần tạo nên tính phong phú về nhạc điệu trong lời thơ. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc diễn xướng, vì dặc trưng của ca dao dân ca là hát lên, nhưng nhịp thay đổi từ nhịp chẵn: 4/2 (Trèo lèn cây bưởi / hái lioa), 4/4 (Bước xuống vườn cà / hái nụ tầm xuân) chuyển sang nhịp lẻ chẵn 3/4 (Nụ tầm xuân / nở ra xanh biếc) và từ vần bằng của lục bát chuyển sang hiệp vần trắc song thất: hoa/cà (lục bát) biếc/tiếc (thất bát). Tác giả lại bồi thêm cách láy lại ở câu 3 “nụ tầm xuân - nụ tầm xuân” và cac câũ sau cũng theo các kết cấu vần điệu mới mẻ như thế ® bài thơ có âm điệu ngọt ngào tha thiết làm xúc động người nghe.

•     Hình ảnh thơ là chất liệu lấy từ cuộc sống dân dã thường ngày ở nông thôn: Cây bưởi, vườn cà, hoa tầm xuân, chim, cá... nên tạo cảm giác rất thân quen. Rất quen nhưng cũng rất lạ lẫm mới mẻ vì nụ tầm xuân hồng, trắng ngày thường bỗng 'biến thành màu xanh biếc. Cho nên nó nói giản đơn mà lại rất ẩn dụ, chỉ nói “Nụ tầm xuân” thôi cũng đã ẩn dụ cho tình yêu, cho vẻ đẹp người con gái rồi, huống chi “nụ tầm xuân xanh biếc”, càng gợi cái vẻ non tơ tươi trẻ đến mức quá hồn nhiên, vậy mà “em đã có chồng” rồi. Cho nên cái cảm giác “tiếc” càng xót buốt đến tận tâm can. Cái màu xanh ấy mới lãng mạn trữ tình biết bao! Cái màu xanh ấy mới xao xuyến gợi thương gợi nhớ. Cái thương nhớ một thời trẻ trung nhiều kỉ niệm của đôi trai làng gái quê cùng xóm cùng làng. Vậy mà họ không kịp lấy nhau vì chàng trễ nai, không ngờ nàng phải gả chồng ngay trong cái độ chưa chín, cái độ còn non tơ “xanh biếc” {“Lấy chồng từ thuở mười ba”... là phong tục xưa mà!) “Tiếc lắm thay” mối tình xanh ngời ngợi! Câu thơ buông xuống như tiếng thở dài nghẹn ngào cho nên chàng trai không thể nói thêm được lời nào. Cái im lặng của chàng trai ở đây đã thể hiện trình độ nghệ thuật tinh tế của người nghệ sĩ dân gian... Là cả một sự trải nghiệm về tình yêu và cuộc đời. Có những lúc sự im lặng là vàng. Nó nói lên tất cẫ mọi điều mà ngôn từ không còn khả năng biểu hiện. Tuyệt hay. Đó chẳng phải là chất ngọc vẻ ngọc hay sao?

•     Biện pháp tu từ so sánh, kết hợp với lối điệp liên hoàn và song hành ở cuối bài thơ góp phần khẳng định cái chất ngọc của ca dao, nó gợi lên một cách đầy đủ và sống động cuộc đời bất hạnh của người phụ nữ Việt Nam xưa: có chồng theo sự ép buộc của cha mẹ hoặc theo sự cưỡng đoạt của nhà giàu, người phụ nữ xưa phải sống không tự do, không hạnh phúc, bị trói buộc như nô lệ. Cách so sánh quen thuộc nhưng rất hay. Bởi “chim lồng, cả mắc câu" thì còn mong gì tự do, còn mong gì được sống theo ý mình! Tâm trạng đau khổ, tiếc hận cuộc đời bế tắc không lối thoát, không ánh sáng tương lai thể hiện rất rõ trong lời than của cô gái làm nao lòng người nghe, làm nhức nhối đến tận tim gan chàng trai.

•     Chỉ có 10 câu ca dao mà người xưa đã gợi lên cả một vấn đề lớn, tình yêu lứa đôi và thân phận con người. Sự đồng cảm của tác giả đã tạo nên một giá trị nhân đạo cho ca dao, lời tiếc nuối của chàng trai và lời than thân trách phận của cô gái tạo nên giá trị nhân bản cho ca dao. Các biện pháp nghệ thuật tinh tế nâng cánh cho bài ca dao mang những giá trị hiện thực, nhân bản, nhân đạo quý giá ấy vượt bức tường thời gian để đến với chúng ta ngày nay.

Bài “Tát nước đầu đình”

Cái hay về nội dung thể hiện trí thông minh, tình cảm chân thành nghiêm túc của người bình dân.

•     Cái hay nghệ thuật: Hình ảnh chọn lọc phù hợp vừa có tính truyền thống vừa có sự sáng tạo. Biện phập tu từ: Ân dụ được tận dụng nhiều lần: “Cái áo”, “cành sen”. “Cái áo trên cành hoa sen”, “áo sứt chỉ đường tà”, “áo sứt chỉ đã lâu”. Biện pháp liệt kê và hoán dụ cũng đã vận dụng tập trung và linh hoạt ở đoạn cuối góp phần tạo nhạc cho thơ => sôi nổi, hào hứng, khẩn trương. Cách dẫn dắt vấn đề, cách dùng từ là một thành công xuất sắc của bài ca dao trữ tình này: linh hoạt, tinh tế nói lên được cái tư chất thông minh, khỏe mạnh về tinh thần, hoạt bát về ứng đối trẻ trung duyên dáng trong giao tiếp.

•      Bài ca dao còn để lại cho những thế hệ sau này một minh chứng 'bằng văn bản về phong tục cưới xin của dân tộc ngày xưa.

•      Qua bài ca dao trên, ta hiểu được đời sống, những sinh hoạt cộng đồng lành mạnh ngày xưa của tuổi trẻ Việt Nam. Đó là viên ngọc lấp lánh, vê tài hoa, trí tuệ và trữ tình của nhân dân ta ngày xưa.

•      Chú ý: Nếu muôn phân tích những bài ca dao khác thì xem ở phần giải đề 8. Tất nhiên phải linh hoạt và làm cho phù hợp.

Chú ý: Trong trường hợp đề đưa ra yêu cầu phải chứng minh nhận định về giá trị chung của văn học dân gian thì chia bố cục làm hai phần.

Nguồn: