Bài văn phân tích đoạn thư Cảnh Ngày Xuân trong tác phẩm Truyện Kiều

Thứ bảy , 12/09/2015, 09:26 GMT+7
Phân tích đoạn thơ ‘cảnh ngày xuân’ trong tác phẩm ‘Truyện Kiều’ của Nguyễn Du. Bốn câu thơ đầu, mở ra một không gian nghệ thuật hữu sắc, hữu hương, hữu tình, nên thơ. Giữa bầu trời bao la mênh mông là những cánh én bay qua bay lại như ‘đưa thoi’. Cánh én mùa xuân thân mật biết bao ....

Bài làm

Trang thơ của Nguyễn Du đang mở rộng trước mắt chúng ta. Có phải không, sau bức chân dung giai nhân là bức họa về cảnh sắc mùa xuân trong tiết Thanh minh và cảnh du xuân của trai tài gái sắc, của chị em Thúy Kiều ? Đoạn thơ ‘Cảnh ngày xuân’ gồm có 18 câu, từ câu 39 đến câu 56 của 'Truyện Kiều’ tiêu biểu cho bút pháp nghệ thuật tả cảnh và tả tình của thi hào Nguyễn Du. Một vẻ đẹp thanh xuân, một niềm vui xôn xao, náo nức cứ dâng lên, cứ lan tỏa, rồi lắng dịu mãi trong lòng ta khi đọc đoạn thơ này.

Bốn câu thơ đầu, mở ra một không gian nghệ thuật hữu sắc, hữu hương, hữu tình, nên thơ. Giữa bầu trời bao la mênh mông là những cánh én bay qua bay lại như ‘đưa thoi’. Cánh én mùa xuân thân mật biết bao. Hai chữ ‘đưa thoi’ rất gợi hình, gợi cảm. Cánh én như con thoi vút qua, vút lại. chao liệng; thời gian đang trôi nhanh, mùa xuân đang trôi nhanh. Câu thành ngữ - tục ngữ: 'Thời gian thấm thoắt thoi đưa, như ngựa chạy, như nước chày qua cầu’ đã nhập vào hồn thơ Tố Như tự bao giờ ?

Sau cánh én ‘đưa thoi’ là ánh xuân, là ‘thiều quang’ của mùa xuân khi ‘chín chục đã ngoài sáu mươi’. Cách tính thời gian và miêu tả vẻ đẹp mùa xuân của các thi sĩ xưa nay thật là hay và ý vị. Nào là ‘xuân hướng lão’ (ức Trai), nào cảnh mưa bụi, tiếng chim kêu trong Đường thi. Nào là cánh bướm rối rít bay trong thơ Trần Nhân Tông. Còn là ‘xuân hổng’ (Xuân Diệu), ‘mùa xuân chín’ (Hàn Mặc Tử), v.v... Với Nguyễn Du là mùa xuân đã bước sang tháng ba, 'Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi’. Hai chữ ‘thiều quang’ gợi lên cái màu hồng của ánh xuân, cái ấm áp của khí xuân, cái mênh mông bao la của đất trời ‘Xuân giang, xuân thủy tiếp xuân thiên’

(‘Nguyên tiêu’ -Hồ Chí Minh).

Còn là sắc ‘xanh’ mơn mởn, ngọt ngào của cỏ non trải dài, trải rộng như tấm thảm ‘tận chán trời’. Là sắc ‘trắng’ tinh khỏi, thanh khiết của hoà lê nở lác đác, chỉ mới hé lộ, khoe sắc khoe hương ‘một vùi bông hoà’:

‘Cỏ non xanh tận chân trời,

Cành lê trắng điểm một vài hông hoà.’

Vần cổ thi Trung Hoà được Tố Như vận dụng một cách sáng tạo: ‘Phương thào liên thiên bích - Lê chi sổ điểm hoà’. Hai chữ ‘trắng điểm’ là nhãn tự, cách chấm phá điểm xuyết của thi pháp cổ gợi lên vẻ đẹp thanh xuân trinh trắng của thiên nhiên cỏ hoà; bút pháp nghệ thuật phối sắc tài tình: trên cái nền xanh của cỏ non là một vài bông lê ‘trắng điểm’. Giữa diện và điểm, giữa nền xanh và sắc trắng của cảnh vật mùa xuân là những cánh én ‘đưa thoi’, là màu hổng của ánh thiều quang, là ‘khát vọng mùa xuân’ ngây ngất, say đắm lòng người:    ,

‘Nhìn hoà đang hé tưng bừng,

Khao khát mùa xuân yên vui lại đến’.

(Ca khúc ‘Khát vọng mùa xuân’ - Mô-da)

‘Cảnh mùa xuân’là bức tranh xuân hoà lệ, là vần thơ tuyệt bút của Nguyễn Du để lại cho đời, điểm tô cho cuộc sống mỗi chúng ta. Phải chăng, thi sĩ Chế Lan Viên đã học tập Tố Như để viết nên vần thơ xuân đẹp này:

'Tháng giêng hai xanh mướt cỏ đồi,

Tháng giêng hai vút trời hay cánh én.. ‘?

(‘Ỷ nghĩ mùa xuân’)

Tám câu thơ tiếp theo tả cảnh trẩy hội mùa xuân: ‘Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh’ trong tiết tháng ba. Điệp ngữ: ‘lểlà... hội là...’gợi lên những cảnh lễ hội dân gian cứ liên tiếp diễn ra đã bao đời nay: 'Tháng giêng là tháng ăn chơi - Tháng hai cờ bạc, tháng ba hội hè’... (Ca dao). Cảnh trẩy hội đông vui, tưng bừng, náo nhiệt. Trên các nẻo đường ‘gần xa’ những dòng người cuồn cuộn trẩy hội. Có biết bao ‘yến anh’ trẩy hội trong niềm vui ‘nô nức’, hồ hởi, giục giã. Có biết bao tài tử, giai nhân ‘dập dìu’ vai sánh vai, chân nối chân nhịp bước. Dòng người trẩy hội tấp nập ngựa xe cuồn cuộn ‘như nước’, áo quần đẹp đẽ, tươi thắm sắc màu, nghìn nghịt, đông vui trên các nẻo đường ‘như nêm’. Các từ ngữ: ‘nô nức’, ‘dập dìu’, các ẩn dụ so sánh (như nước, như nêm) đã gợi tả lễ hội mùa xuân tưng bừng náo nhiệt đang diễn ra khắp mọi miền quê đất nước. Trẻ trung và xinh đẹp, sang trọng và phong lưu:

‘Dập dìu tài tử giai nhân,

Ngựa xe như nưc, áo quần như nêm.’

Trong đám tài tử, giai nhân ‘gần xa’ ấy, 3 chị em Kiều. Câu thơ chi em sắm sửa bộ hành chơi xuân’ mới đọc qua tưởng như chỉ là một thông báo. Nhưng Sâu xa hơn, nó ẩn chứa bao nỗi niềm: chờ trông mong đợi, ngày lể tảo mộ, ngày hội đạp thanh đến để du xuân trong những bộ quần áo đẹp đã chuẩn bị, đã ‘sắm sửa’... Có biết bao ‘bóng hổng’ xuất hiện trong đám tài tử, giai nhân ấy ? Ai đã từng đi hội chùa Hương, hội Lim, hội Yên Tử... mới cảm thấy cái đẹp, cái vui, cái tưng bừng, tươi trẻ trong hôi đạp thanh mà Nguyễn Du đã nói đến.

Thơ là nghệ thuật của ngôn từ. Các từ ghép: ‘yến / anh’, ‘chị / em’, ‘tài / tử', ‘giai / nhân’ ‘ngựa / xe’, ‘áo / quần’ (danh từ); ‘gần / xa’ , ‘nô / nức’, ‘sắm / sửa’, ‘dập / dìu’ (tính từ, động từ) được thi hào sử dụng chọn lọc tinh tế, làm sống lại cái khống khí lễ hội mùa xuân, một nét đẹp của nền văn hóa lâu đời của phương Đông, của Trung Hoà, cùa Việt Nam chúng ta, và nếp sống ‘phong lưu’ cùa chị em Kiều.

‘Ngổn ngang/ gò đống keo len,

Thoi vàng vó rắc/ tro tiền giấy bay.’

Đời sống tâm linh, phong tục dân gian cổ truyền trong lễ tảo mộ được Nguyễn Du nói đến với nhiều cảm thông, san sẻ. Cõi âm và cõi dương, người đang sống và kẻ đã khuất, hiên tại và quá khứ đồng hiện trên những gò đống ‘ngổn ngang’ trong lẻ tảo mộ. Cái tâm thánh thiện, niêm tin phác thực dân gian đầy ắp nghĩa tinh. Các tài từ, giai nhân, và 3 chị em Kiểu không chỉ nguyện cầu cho những vong linh mà còn gửi gắm bao niềm tin, bao ao ước về tương lai hạnh phúc cho tuổi xuân khi mùa xuân về. Có thể sau hai trăm năm, ý nghĩ của mỗi chúng ta có ít nhiều đổi thay trước cảnh ‘Thoi vàng vó rắc, tro tiền giấy bay’, nhưng giá trị nhân bản của vần thơ Nguyễn Du vẫn làm ta xúc động!

Sáu câu thơ cuối đoạn ghi lại cảnh chị em Kiều đi tảo mộ đang dần bước trở về nhà. Mặt trời đã ‘tà tà’ gác núi. Ngày hội, ngày vui đã trôi qua nhanh:

'Tà tà, bóng ngả về tây,

Chị em thơ thẩn dan tay ra về.’

Hội tan sao chẳng buồn ? Ngày tàn sao chẳng buồn ? Nhịp thơ chậm rãi. Nhịp sống như ngừng trôi. Tâm tình thì ‘thơ than’, cử chỉ thì ‘dan tay’, nhịp chân thì ‘bước dần’. Một cái nhìn man mác, bâng khuâng: ‘lần xem’... đối với mọi cảnh vật. Tất cá đểu nhỏ bé. Khe suôi chỉ là ‘ngọn tiểu khe’. Phong cảnh ‘thanh thanh’. Dòng nước thì ‘nao nao’ uốn quanh. Dịp cầu thì ‘nho nhò’ bắc ngang ở cuối ghểnh. Cả một không gian êm đềm, vắng lăng. Tâm tình của chị em Kiểu như dịu lại trong bóng tà dương. Như đang đợi chờ một cái gì sẽ đến, sẽ nhìn thấy ? Cặp mắt cứ ‘lần xem’ gần xa:

‘Bước dần theo ngọn tiểu khe,

Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh.’

Các từ láy tượng hình: ‘thanh thanh’, ‘nao nao’, ‘nho nhỏ’ gợi lên sự nhạt nhòa cùa cảnh vật và sự rung dộng của tâm hồn giai nhân khi hội tan, ngày tàn. Nỗi

(

niềm man mác bâng khuâng thấm sâu, lan tỏa trong tâm hồn của giai nhân đa tình, đa cảm.

Cảnh vật và thời gian được miêu tả bằng bút pháp ước lệ tượng trưng nhưng rắt sống động, gần gũi, thân quen đối vói bất cứ người Việt Nam nào. Không còn xa lạ nữa, vì ngọn tiểu khê ấy, dịp cầu nho nhỏ ấy là màu sắc đồng quê, là cảnh quê hương đất nước mình. Tính dân tộc là một nét đẹp đậm đà trong thơ Nguyễn Du, nhất là những vần thơ tả cảnh ngụ tình tuyệt tác.

Thi sĩ Xuân Diệu từng viết: ‘Hỡi xuân hổng, ta muốn cắn vào ngươi’. Trong 'Thương nhớ mười hai’, Vũ Bằng không nén nổi cảm xúc của mình mà phải thốt lên: ‘Mùa xuân của tôi... Cái mùa xuân thần thánh của tôi... Đẹp quá đi, mùa xuân ơi - mùa xuân của Hà Nội thân yêu, của Bắc Việt thương mến...’. Và chúng ta muốn nói thêm: ‘Đẹp quá đi mùa xuân cùa đất nước thân yêu ! Vui quá đi, trẻ đẹp quá đi cảnh mùa xuân, cảnh trẩy hội xuân trong 'Truyện Kiều’. Mùa xuân đem đến cho ta bao trước vọng. Sắc xuân, tình xuân như nở hoà, trớp hương trong lòng ta.

Hỡi những nàng Kiểu gần xa có nghe thấy tiếng nhạc vàng của chàng Kim Trọng trong ngày xuân đẹp từ xa đang vọng tới?...

Nguồn: