Bài văn phân tích đoạn thơ Bếp Lửa của tác giả Bằng Việt hay nhất

Thứ bảy , 12/09/2015, 15:38 GMT+7
Đoạn thơ đầy xúc đỏng nhác lại những kỉ niệm êm đêm, sâu sắc một thòi gian khổ 'bám nấm ròng cháu cùng bà nhóm lần’. Ngọn lừa ấy được nhóm len bảng bàn tay cùa hai bà cháu, vì cuộc sống cơm áo cực nhọc đời thường. Ngọn lửa ấy, bếp lửa ấy là của tình yêu thương ...

Bài thơ ‘Bếp lửa’ của Bằng Việt có đoạn:

Tầm năm ròng cháu cùng bả nhóm lần,

Tu hú kêu trên những cánh đồng xa

...Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà

Kêu chi hoài trên những cánh đổng xa?’

Hãy phân tích đoạn thơ trên.

Bài làm

Bằng Việt là nhà thơ trẻ trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ. Anh làm thơ tư thời còn là học sinh, sinh viên. Bài thơ ‘Bếp lửa’ viết năm 1963, khi anh đang học đại học ở nước ngoài. Đây là bài thơ tiểu biểu nhất của anh - một hổn thơ tài hoà và nồng hậunghĩa tình. Bài thơ có đoạn:

‘Tám năm ròng Cháu cùng bà nhóm lần Tu hú kêu trên những cánh dồngxa ...Tu hú ơi! Chảng đến ở cùng bà Kêu Chi hoài trên những cành dồng xa?’

Đoạn thơ đầy xúc đỏng nhác lại những kỉ niệm êm đêm, sâu sắc một thòi gian khổ 'bám nấm ròng cháu cùng bà nhóm lần’. Ngọn lừa ấy được nhóm len bảng bàn tay cùa hai bà cháu, vì cuộc sống cơm áo cực nhọc đời thường. Ngọn lửa ấy, bếp lửa ấy là của tình yêu thương ‘áp iu nòng đượm’ mà bà đã sưởi ấm tâm hồn dứa cháu ngây thơ từ những ngày xửa ngày xưa, khi cháu vừa ‘lén bốn tuổi’. Tiếng kêu tha thiết của chim tu hú trẽn những cánh đổng xa những gợi nhớ gợi thương, làm nhà thơ bổi hổi sống lại những kỷ niệm sâu sắc thời thơ bé, bâng khuâng nhớ lại những chuyện kể của bà. 'Tâm nám ròng’... — một thời gian khổ đã qua, nhưng cháu làm sao quên được? Cháu hổi tưởng, cháu hùi bà hay tự hỏi mình?

‘Khi tu hú kêu bà còn nhớ khàng bà Bà hay kè chuyện những ngày ở Huế Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế!’

Hình ảnh ngọn lửa và âm thanh tiếng kêu chim tu hú có một sức mạnh biểu  cảm vang xa, tạo nên những liên tưởng nghĩa tình thâm thìa.

Sáu câu thơ tiếp theo với những chi tiết cụ thể và cảm động, Bằng Việt đã vẽ lên hình ảnh của bà, người bà đáng kính đáng yêu, suốt những năm dài khó nhọc đã chăm sóc, dạy dỗ cháu nên người:

‘Mẹ cùng cha bận công tác không về,

Cháu ở cùng bá, bà bảo cháu nghe Bà dạy cháu làm, bà châm cháu học...’

Câu thơ gồm hai vế tiều đối cân xứng, nhịp thơ êm ái hài hòa. Từ ‘hà’, từ ‘chần’ được nhắc lại nhiều lần ‘Cháu ở cùng bà... bà bảo... bà dạy... bà chầm chầu học’, âm điệu quấn quýt như sự gắn bó giữa hai tâm hồn bà - cháu trong tình yêu thương. Cháu lớn khôn, trưởng thành trong đôi bàn tay nâng niu, trong tấm lòng yêu thương vô hạn của bà. Bà đã thức khuya dậy sớm ‘nhóm lần’ làm cho tâm hồn thơ bé của cháu sống trong cảnh xa mẹ cha trở nên ấm áp. Ngọn lửa mà bà đã nhóm lên từ ‘Bếp lửa’ ấy đã sưởi ấm và soi sáng cuộc đời đi lên phía trước của cháu.

Mang nặng công ơn của bà, trong đây tâm hồn cháu — nhà thơ - hình ảnh của bà hiện lên, chẳng bao giờ mờ phai. Tiếng kêu của con chim tu hú với hình ảnh của bà kết hợp hài hòa, được diễn tà dưới hình thức nghệ thuật cảm thán và câu hỏi tu từ đã khắc sâu nỗi nhớ thương da diết, một nỗi bồn chồn trong tâm tưởng và ký ức:

‘Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà,

Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa.’

Âm điệu cùa vần thơ nhẹ nhàng, tha thiết, sâu lắng gợi lên những rung cảm man mác, bâng khuâng. Tiếng chim tu hú như vọng vào năm tháng, bổi hồi...

Hình ảnh ‘Bép lửa’ gắn liền với mái nhà êm ấm, cũng như âm thanh của tiếng chim tu hú gắn liền với cánh đồng. Bằng Việt đã khéo lựa chọn hai hình ảnh ấy để nói lên lòng kính yêu, sự thương nhớ và biết ơn bà, với tình yêu quê hương. Bếp lửa và tiếng chim trở thành biểu tượng mang vẻ đẹp nhân vàn của một tình quê nồng hậu, về kỷ niệm tuổi thơ ngọt ngào.

Mỗi chúng ta, ai mà chảng lưu giữ trong tim mình những âm thanh, cảnh sắc quê nhà, những kỷ niệm cảm động, mái tóc bạc phơ, đôi mắt hiền từ của ông bà, người đã sinh ra cha mẹ ta? Bài thơ của Bằng Việt chẳng khác nào lời ru của mẹ, chuyện kể cùa bà... từ những năm tháng tuổi thơ vọng về. Những tình cảm đẹp ấy được diễn tả rất thơ...

Nguồn: